Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal <p>Tạp chí Phụ Sản (ISSN 1859–3844, DOI: 10.46755/vjog)&nbsp; sẽ công bố các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết tổng quan cũng như các báo cáo trường hợp lâm sàng đặc biệt, liên quan đến các lĩnh vực sản phụ khoa, sơ sinh và nội tiết sinh sản, vô sinh được xuất bản định kỳ mỗi quý (4 số mỗi năm) và một số số đặc biệt.&nbsp;&nbsp;Bài viết gởi về tòa soạn cần tuân thủ quy định về hình thức của tạp chí và theo quy trình <a href="https://vjog.vn/journal/quy-trinh">tại đây</a>.</p> <p>Mỗi bài báo khoa học được chấp nhận đăng trên tạp chí phụ sản được Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đánh giá <strong>0,75</strong> điểm/công trình về mặt đóng góp khoa học.&nbsp;</p> <p>Mỗi bài viết sẽ được nhận xét bởi 2 phản biện độc lập do Ban biên tập giới thiệu, là những chuyên gia về các lĩnh vực liên quan, để nhận xét tính mới, ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của mỗi bài viết và chấp nhận đăng. Tác giả bài viết sẽ chịu trách nhiệm về nội dung bài của mình và có trách nhiệm phản hồi với mọi ý kiến của độc giả sau khi công bố.</p> vi-VN <p>Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền</p> tapchiphusan.vn@gmail.com (Ban biên tập) tc.phusan@gmail.com (Hỗ trợ hệ thống) Fri, 05 Jun 2026 02:51:51 +0000 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Giá trị dự báo sinh non của sự thay đổi hình thái học cổ tử cung trên siêu âm ở sản phụ song thai từ 24 - 28 tuần tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng https://vjog.vn/journal/article/view/1871 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định giá trị dự báo sinh non của sự thay đổi hình thái học cổ tử cung (CTC) trên siêu âm từ 24 - 28 tuần ở sản phụ song thai.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 93 sản phụ mang song thai tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ 01/01/2023 đến 01/01/2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sự tụt giảm chiều dài CTC từ tuần thai 24 - 26 có giá trị dự báo sinh non tốt với điểm cut-off là trên 3,5 mm với AUC là 0,808, độ nhạy là 95%, độ đặc hiệu 54,5%, và nguy cơ sinh non tăng lên 16,4 lần so với sự tụt giảm dưới 3,5 mm (p &lt; 0,001). Tương tự, sự tụt giảm chiều dài CTC từ tuần thai 26-28 có giá trị dự báo sinh non khá tốt với điểm cut-off là trên 3,8 mm với AUC là 0,76, độ nhạy là 86,7%, độ đặc hiệu 66,7%, và nguy cơ sinh non tăng lên 13 lần so với sự tụt giảm dưới 3,8 mm (p &lt; 0,001). Số đo góc CTC có điểm cut-off để dự báo nguy cơ sinh non trước 34 tuần và trước 37 tuần lần lượt là 110<sup>o </sup>và 105,8<sup>o</sup>, giá trị AUC lần lượt là 0,78 (độ nhạy là 92,1%, độ đặc hiệu là 72,7%) và 0,86 (độ nhạy là 80,8%, độ đặc hiệu là 67,2%). Nhóm có góc ≥ 110<sup>o</sup> có nguy cơ sinh &lt; 34 tuần cao gấp 6,3 lần so với nhóm có góc &lt; 110<sup>o</sup>, tương tự ở ngưỡng góc ≥ 105,8<sup>o</sup> có nguy cơ sinh &lt; 37 tuần cao gấp 8,7 lần so với nhóm có góc &lt; 105,8<sup>o</sup> (p &lt; 0,001). Từ tuần thai 24-26 số đo góc CTC tăng &gt; 6,75<sup>o </sup>có nguy cơ sinh non cao gấp 1,5 lần so với nhóm tăng ≤ 6,75<sup>o</sup> (p = 0,03). Tương tự, từ 26 - 28 tuần, nhóm tăng &gt; 7,33<sup>o</sup> có nguy cơ sinh non cao gấp 3,1 lần so với nhóm tăng ≤ 733<sup>o</sup> (p = 0,015). Góc CTC có giá trị dự báo sinh non: ở ngưỡng góc ≥ 110<sup>o</sup> có nguy cơ sinh &lt; 34 tuần cao gấp 6,3 lần so với nhóm có góc &lt; 110<sup>o</sup>, tương tự ở ngưỡng góc ≥ 105,8<sup>o</sup> có nguy cơ sinh &lt; 37 tuần cao gấp 8,7 lần so với nhóm có góc &lt; 105,8<sup>o</sup> (p &lt; 0,001).</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Kết luận: </strong>Sự thay đổi hình thái học CTC đo trên siêu âm từ tuần 24 đến 28 có thể là yếu tố tiềm năng cùng với chiều dài và góc cổ tử cung để dự báo sinh non, chiều dài càng giảm và góc CTC càng lớn thì nguy cơ sinh non càng cao.</p> Bùi Văn Hiếu, Nguyễn Thị Hoàng Trang, Nguyễn Thị Thùy, Trần Gia Huy, Trần Khắc Quang, Lê Minh Tâm, Nguyễn Vũ Quốc Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1871 Tue, 26 May 2026 08:01:16 +0000 Nhận xét chẩn đoán rau tiền đạo - rau cài răng lược trên sản phụ có mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương https://vjog.vn/journal/article/view/1919 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Nhận xét kết quả chẩn đoán rau tiền đạo-rau cài răng lược trên sản phụ có mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTW).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Tất cả 80 trường hợp được chẩn đoán và điều trị rau tiền đạo-rau cài răng lược, tuổi thai <u>&gt;</u> 22 tuần có tiền sử mổ đẻ tại BVPSTW từ ngày 01/01/2023 đến hết ngày 31/12/2024. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang dựa trên hồ sơ bệnh án.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tuổi thai trung bình khi mổ: 37,8 ± 1,4 tuần. Chẩn đoán khi mổ: RTĐ đơn thuần: 31,3% (25/80); rau bám chặt: 40,0% (32/80); rau cài: 16,2% (13/80); rau xuyên cơ: 12,5% (10/80) tương ứng với mức độ mất máu trung bình tăng lên; các trường hợp chảy máu nặng &gt; 3000 ml, truyền máu <u>&gt;</u> 4 đơn vị và tổn thương bàng quang đều gặp ở các thể. Có sự chênh lệch giữa chẩn đoán trước mổ bằng siêu âm, trong mổ và sau mổ qua bằng giải phẫu bệnh lý các thể RTĐ-RCRL.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Thực hành lâm sàng chẩn đoán các thể rau tiền đạo- rau cài răng lược trên sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ đáp ứng nhu cầu thực tế, song càng nâng cao năng lực chẩn đoán trước trước sinh và&nbsp; kết quả mô bệnh học phản hồi lại sau mổ càng giúp cho quyết định chẩn đoán trong mổ tốt hơn.</p> Phạm Huy Hiền Hào, Phạm Thị Thanh Xuân, Phạm Thị Yến Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1919 Wed, 27 May 2026 02:57:50 +0000 Thực trạng nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2025 https://vjog.vn/journal/article/view/1857 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mức độ và xác định các yếu tố liên quan đến nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính. Mẫu định lượng gồm 408 điều dưỡng/hộ sinh tại 22 khoa lâm sàng; chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Mẫu định tính gồm 9 điều dưỡng/ hộ sinh tại 9 khoa (phỏng vấn 3 điều dưỡng/hộ sinh ở 3 khoa có nguy cơ căng thẳng cao, trung bình và thấp). Sử dụng thang đo ENSS (Expanded nursing stress scale), thang đo có 57 mục, phân loại Likert 5 mức (mức số 5 “chưa trải qua” quy đổi 0 điểm); phân loại điểm trung bình: &lt; 2 thấp; 2 - 3 trung bình; &gt; 3 cao. Thời gian thu thập số liệu từ 01/03 - 01/08/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình căng thẳng chung 1,54±0,50 (mức thấp); trong đó 79,4% điều dưỡng, hộ sinh có nguy cơ căng thẳng thấp, 19,1% nguy cơ căng thẳng trung bình, 1,5% nguy cơ căng thẳng cao. Điểm theo nhóm yếu tố: người bệnh &amp; gia đình NB 1,93 ± 0,71 (cao nhất), khối lượng công việc 1,80 ± 0,70; đối mặt cái chết 1,71 ± 0,65; chưa chuẩn bị cảm xúc 1,61 ± 0,65; không chắc chắn điều trị 1,58 ± 0,53; mâu thuẫn với bác sĩ 1,51±0,63; vấn đề với đồng nghiệp 1,45 ± 0,56; vấn đề với cấp trên 1,43 ± 0,61; phân biệt đối xử 0,83 ± 0,53. Yếu tố liên quan: tuổi ≤ 30 và thâm niên &lt; 5 năm có mức nguy cơ căng thẳng cao hơn (p &lt; 0,001); những người độc thân có nguy cơ căng thẳng cao hơn (p = 0,02); thái độ tích cực với nghề, hài lòng lương, môi trường làm việc và nội dung công việc liên quan đến mức căng thẳng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Đa số điều dưỡng/hộ sinh có nguy cơ căng thẳng thấp; tác nhân nổi bật là tiếp xúc người bệnh/người nhà và khối lượng công việc. Ưu tiên can thiệp cho nhóm trẻ, thâm niên thấp; cải thiện nhân lực, hỗ trợ tâm lý, giao tiếp và điều kiện làm việc.</p> Võ Trần Thanh Thảo, Phạm Chí Kông, Nguyễn Thị Minh Chính Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1857 Wed, 27 May 2026 08:19:40 +0000 Ứng dụng phân tích chu kỳ tế bào bằng kỹ thuật dòng chảy tế bào trong sàng lọc tổn thương tế bào cổ tử cung https://vjog.vn/journal/article/view/1843 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu nhằm phân tích mối liên quan giữa tỉ lệ các pha trong chu kỳ tế bào với tổn thương tế bào cổ tử cung (CTC), đồng thời xác định ngưỡng cắt tối ưu của các chỉ số này trong phát hiện tổn thương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Thiết kế mô tả cắt ngang được thực hiện trên 202 mẫu phết tế bào cổ tử cung lấy bằng phương pháp nhúng dịch (Liquid-based Cytology - LBC). Cặn tế bào được nhuộm DRAQ5 và phân tích bằng kỹ thuật dòng chảy tế bào (Flow cytometry - FCM). Chu kỳ tế bào được phân tích bằng phần mềm ModFit LT 6.0 và so sánh tỉ lệ các pha theo nhóm phân loại tế bào học và tình trạng nhiễm HPV nguy cơ cao (HR-HPV). Phân tích ROC để đánh giá khả năng phân biệt tổn thương và xác định ngưỡng cắt tối ưu.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỉ lệ pha G1/G0 có xu hướng giảm dần theo mức độ tổn thương tế bào CTC (p &lt; 0,001), trong khi tỉ lệ pha S có xu hướng tăng dần (p &lt; 0,001). Trong ngưỡng tổn thương &gt; ASC-US, tỉ lệ pha G1/G0 có ngưỡng cắt là &lt; 85,5% (AUC, độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là: 0,84; 88%, 73,75%), tỉ lệ pha S có ngưỡng cắt là &gt; 9,25% (AUC, độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là: 0,82; 76%, 75,63%)</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phân tích chu kỳ tế bào bằng kỹ thuật FCM trên mẫu LBC cho thấy tỉ lệ các pha G1/G0 và S có giá trị chẩn đoán tốt trong phát hiện tổn thương tế bào CTC mức độ &gt; ASC-US. Các chỉ số này có thể được ứng dụng bổ trợ cho xét nghiệm Pap và HPV trong chương trình sàng lọc UTCTC, góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư.</p> Trần Thị Ngọc Mi, Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Hoàng Tuyết Minh, Hà Kiều Trang, Nguyễn Ngọc Khánh Linh, Phan Đặng Anh Thư Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1843 Wed, 27 May 2026 09:13:25 +0000 Đánh giá chất lượng sống bệnh nhân tổn thương tiền ung thư cổ tử cung độ 1 dương tính với HPV nguy cơ cao theo các phương pháp điều trị https://vjog.vn/journal/article/view/1870 <p><strong>Mục tiêu: </strong>so sánh chất lượng cuộc sống&nbsp; (CLS) của bệnh nhân tổn thương tiền ung thư cổ tử cung mức độ 1 (CIN1) kèm nhiễm HPV nguy cơ cao sau điều trị bằng phương pháp áp nhiệt và theo dõi 3 tháng và 6 tháng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>nghiên cứu thuần tập mô tả tiến cứu so sánh. Thực hiện trên 125 bệnh nhân tại Bệnh viện Từ Dũ, Việt Nam từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 07 năm 2025 ở phụ nữ ≥ 30 tuổi, CIN 1, HPV nguy cơ cao dương tính, đủ tiêu chuẩn điều trị hoặc theo dõi.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>hai nhóm áp nhiệt và theo dõi không khác biệt đặc điểm dân số học. Trước điều trị, nhóm theo dõi có gánh nặng tâm lý cao hơn nhóm áp nhiệt. Sau 3 tháng, nhóm áp nhiệt có gánh nặng tâm lý xã hội cao hơn nhóm theo dõi nhưng hiệu ứng nhỏ. Sau 6 tháng, nhóm áp nhiệt có điểm CLS theo thang đo HPV impact profile (HIP) thấp và ổn định, cải thiện CLS rõ rệt, nhóm theo dõi vẫn còn một số trường hợp gánh nặng tâm lý rất cao. Điểm EuroQoL-5 dimension-5 level (EQ-5D-5L) và EQ-VAS cải thiện ý nghĩa ở nhóm áp nhiệt sau 3-6 tháng so với nhóm theo dõi.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>phương pháp áp nhiệt giúp giảm đáng kể gánh nặng tâm lý, cải thiện CLS và sức khỏe tự đánh giá so với nhóm theo dõi đơn thuần. Kết quả nghiên cứu củng cố giá trị của áp nhiệt trong quản lý bệnh CIN1 nhiễm HPV nguy cơ cao, phù hợp với thực tế tại Việt Nam.</p> Hồ Quang Nhật, Phạm Hồ Thúy Ái, Trần Ngọc Hải, Lê Quang Thanh, Nguyễn Vũ Quốc Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1870 Thu, 28 May 2026 03:30:11 +0000 Đánh giá mức độ triệu chứng mãn kinh theo thang MRS và chất lượng cuộc sống theo WHOQoL-BREF: Phân tích một số yếu tố liên quan https://vjog.vn/journal/article/view/1851 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Phụ nữ mãn kinh có nguy cơ mắc các bệnh lý do sự thiếu hụt Estrogen. Việc làm rõ tác động của mãn kinh đối với chất lượng cuộc sống trở nên rất quan trọng.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ trầm trọng của các triệu chứng mãn kinh theo thang điểm MRS và chất lượng cuộc sống theo thang WHOQoL-BREF, đồng thời xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 165 phụ nữ mãn kinh đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế theo phiếu điều tra trong thời gian từ tháng 11/2024 đến tháng 04/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ triệu chứng nhẹ ở phân nhóm triệu chứng mãn kinh (MRS) chiếm 55 - 65%. Tỷ lệ chất lượng cuộc sống tốt 31,5%. Nghiên cứu ghi nhận một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống chưa tốt gồm: Triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật (MRS1), nhóm triệu chứng tâm lý (MRS2), nhóm triệu chứng niệu học (MRS3), tình trạng hôn nhân và nhóm tuổi. Qua phân tích hồi quy logistic đa biến tìm được các mối liên quan sau: triệu chứng niệu học (MRS3) (aOR = 3,26; p = 0,007), tình trạng hôn nhân (aOR = 4,97; p = 0,021) và nhóm &gt; 60 tuổi (aOR = 5,38; p = 0,011).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phần lớn phụ nữ mãn kinh có chất lượng cuộc sống chưa tốt, chịu ảnh hưởng đáng kể từ triệu chứng niệu học, tình trạng hôn nhân và nhóm tuổi trên 60.</p> Lê Anh Phúc, Phan Nguyễn Thu Trang, Mai Trần Minh Pháp, Đỗ Song Toàn, Nguyễn Khao Bảo, Lê Lam Hương, Ngô Thị Minh Thảo, Võ Hoàng Lâm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1851 Mon, 01 Jun 2026 02:58:47 +0000 Ảnh hưởng của phẫu thuật bảo tồn vú đến hình ảnh cơ thể của phụ nữ: Góc nhìn từ thang đo Hình ảnh Cơ thể https://vjog.vn/journal/article/view/1837 <p><strong>Mục tiêu:</strong> đánh giá sự hài lòng về hình ảnh cơ thể của bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn</p> <p><strong>Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu:</strong> đây là nghiên cứu hàng loạt ca, được thực hiện tại Bệnh viện Hùng Vương từ tháng 08 năm 2024 đến tháng 01 năm 2025 với 20 ca ung thư vú giai đoạn sớm đủ điều kiện tham gia, thang đo hình dáng cơ thể (BIS) được khảo sát sau hoàn tất xử trí biến chứng nếu có.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 20 ca thực hiện phẫu thuật bảo tồn tại Bệnh viện Hùng Vương có tuổi trung bình là 53,5 (44 - 62), trong đó 12 bệnh nhân &lt; 55 tuổi. Theo dõi sau mổ mỗi tuần, không có biến chứng chảy máu, 15,8% có biến chứng nhiễm trùng với triệu chứng vết mổ viêm đỏ trong tuần 1 và hết sau 2 tuần điều trị, 31,6% có biến chứng tụ dịch trong tuần 1 và hết sau 3 tuần điều trị, 47,4% có biến chứng phù nề vết mổ và hết sau 2 tuần điều trị. Thang đo đánh giá hình dáng cơ thể (BIS) trên nhóm bệnh nhân phẫu thuật bảo tồn là 0,7 (± 0,5) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân cắt bỏ tuyến vú là 10,1 (± 1,6), p &lt; 0,001. Khi đánh giá BIS trên nhóm tuổi, BIS trên phẫu thuật bảo tồn giữa 2 nhóm BN &lt; 55 tuổi và ≥ 55 tuổi không có sự khác biệt p &gt; 0,058, trong khi khác biệt là có ý nghĩa trên phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>nhóm bệnh nhân bảo tồn nhận thấy phẫu thuật này giúp vú ít bị ảnh hưởng, ít tác động đến hình dáng cơ thể và hài lòng với kết quả</p> Nguyễn Trần Bảo Chi, Dương Minh Thư, Hồng Ngọc Phượng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1837 Mon, 01 Jun 2026 03:07:09 +0000 Kiến thức và thực hành tự khám vú của phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2025 https://vjog.vn/journal/article/view/1864 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành tự khám vú và xác định các yếu tố liên quan của phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 350 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên đến khám tại bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 62,3% phụ nữ có kiến thức đạt; 67,7% phụ nữ biết rằng tự khám vú hàng tháng giúp phát hiện ung thư vú sớm; 43,4% cho biết cần khám vú 1 tháng 1 lần; 46% biết cần khám vú sau sạch kinh. 37,4% có thực hành đạt, một trong những bước thực hành quan trọng nhưng tỷ lệ đạt rất thấp là kiểm tra u hạch ở vùng nách 11,4%. Kiến thức càng cao thì thực hành càng tốt (p &lt; 0,001). Phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến kiến thức: tuổi (30 - 39 tuổi, 40 - 49 tuổi), trình độ học vấn (trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học), nghề nghiệp (công nhân, sinh viên, trí thức, văn phòng, giáo viên), phụ nữ có 1 con; Các yếu tố liên quan đến thực hành: tuổi (30 - 39 tuổi, 40 - 49 tuổi), trình độ học vấn (trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học) và nghề nghiệp (sinh viên, trí thức, văn phòng, giáo viên).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phụ nữ tham gia nghiên cứu đạt kiến thức ở mức trung bình và thực hành còn hạn chế. Một số yếu tố liên quan được khẳng định, các yếu tố này cần đánh giá thêm và can thiệp để nâng cao kiến thức và thực hành cho người phụ nữ.</p> Lê Thị Kim Na, Phạm Chí Kông, Trương Tuấn Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1864 Mon, 01 Jun 2026 03:13:02 +0000 Nghiên cứu chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh ung thư vú điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng năm 2025 https://vjog.vn/journal/article/view/1859 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định một số yếu tố liên quan của người bệnh điều trị ung thư vú (UTV) tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 200 người bệnh điều trị ung thư vú tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 03/2025 đến 07/2025. Sử dụng bộ công cụ EQ-5D-5L, các phép thống kê mô tả, kiểm định Kolmogorov–Smirnov, Chi bình phương và mô hình hồi quy logistic (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Điểm trung vị CLCS của người bệnh là 0,74 (-0,62 và độ gù là -0,14). 77% người bệnh có chất lượng cuộc sống ở mức tốt. Lĩnh vực về tình trạng lo lắng/u sầu đạt điểm cao nhất 0,11. Lĩnh vực hoạt động đi lại và hoạt động tự chăm sóc bản thân đạt điểm số ở mức rất thấp 0,00. Trong 5 khía cạnh chất lượng cuộc sống, người bệnh báo cáo gặp vấn đề nhiều nhất ở khía cạnh đau/khó chịu với 90% và lo lắng/u sầu với 88%, các khía cạnh khả năng đi lại và khả năng tự chăm sóc là các khía cạnh ít bị ảnh hưởng chiếm tỷ lệ lần lượt là 17% và 16,5%. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh bao gồm: độ tuổi &lt; 35 (p = 0,011, OR = 5,11) và độ tuổi 35 - 65 (p = 0,044, OR = 12,32), nghề nghiệp lao động chân tay (p = 0,001, OR = 4,584), phương pháp điều trị đơn thuần (p = 0,006, OR = 12,271) và mắc bệnh giai đoạn 1 (p = 0,000, OR = 24,431).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú ở mức khá, và có liên quan với các yếu tốnhư tuổi, nghề nghiệp, phương pháp điều trị và giai đoạn bệnh. Nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, lao động trí óc, điều trị đa phương thức và bệnh giai đoạn muộn thường có CLCS thấp hơn..</p> Trần Vũ Chinh, Phạm Chí Kông, Trương Tuấn Anh, Phạm Thị Ngân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1859 Mon, 01 Jun 2026 07:32:26 +0000 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến rối loạn chức năng tình dục ở thai phụ tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2025 https://vjog.vn/journal/article/view/1873 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng rối loạn chứng năng tình dục và một số yếu tố liên quan ở 239 thai phụ khỏe mạnh đến khám thai quý III tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ 1/2024 đến 5/2025 được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi FSFI.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> cho thấy độ tuổi trung bình là 29,26 ± 4,951 và có tiền sử khỏe mạnh (97,5%). Tình trạng có rối loạn chức năng tình dục ở thai phụ là 67,8%, trong đó tỷ lệ rối loạn từng quý lần lượt: quý I (53,6%), quý II (49%) và quý III (61,5%). Tỷ lệ rối loạn từng hình thái chức năng tình dục theo từng quý bao gồm: quý III ghi nhận tỷ lệ rối loạn cao nhất ở tất cả các chỉ số, đặc biệt là rối loạn sự hài lòng (51,0%), cực khoái (34,3%) và đau khi quan hệ (31,8%). Các yếu tố liên quan đến rối loạn chức năng tình dục gồm có: trình độ học vấn (OR =&nbsp; 0,4; 95%CI: 0,2 - 0,77); tình trạng nhà ở (OR = 1,84; 95%CI: 1,00 - 3,3); tiền sử nạo/sảy/hút/phá thai (OR = 5,35; 95%CI: 1,13 - 25,37); tiền sử viêm nhiễm phụ khoa (OR = 10,10; 95%CI: 1,33 - 76,89).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ rối loạn chức năng tình dục trong thai kỳ chiếm tỷ lệ khá cao (67,8%). Các yếu tố: trình độ học vấn, tình trạng nhà ở, tiền sử nạo/sảy/hút/phá thai và tiền sử viêm nhiễm phụ khoa có mối liên quan đến tình trạng này</p> Lê Đắc Hiệp, Bùi Văn Hiếu, Phạm Thị Len, Trần Khắc Quang, Nguyễn Thị Hồng Ánh, Tô Thị Lan Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1873 Mon, 01 Jun 2026 07:33:52 +0000 Kết quả chăm sóc người bệnh khuyết sẹo sau mổ lấy thai được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Phụ sản Thiện An https://vjog.vn/journal/article/view/1849 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh khuyết sẹo sau mổ lấy thai được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật nội soi tại và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Phụ sản Thiện An.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 73 người bệnh khuyết sẹo sau mổ lấy thai được chỉ định phẫu thuật nội soi tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Phụ sản Thiện An.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Đánh giá chăm sóc người bệnh trước phẫu thuật cho thấy kết quả mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 87,6%, mức rất tốt chiếm tỷ lệ 11%, mức khá chiếm tỷ lệ 1,4%, không có trung bình và kém. Sau phẫu thuật, phần lớn người bệnh đánh giá ở mức tốt chiếm tỷ lệ 94,5%, mức rất tốt chiếm tỷ lệ 5,5%. Đánh giá qua sự hài lòng của người bệnh thấy sự hài lòng của người bệnh với thái độ khi chăm sóc của điều dưỡng là 45,2% hài lòng, 54,8% rất hài lòng. Với kỹ năng chuyên môn của Điều dưỡng khi thực hiện thuốc và các kỹ thuật can thiệp có 43,8% người bệnh hài lòng, 56,2% người bệnh rất hài lòng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Trước phẫu thuật đánh giá về chăm sóc kết quả nghiên cứu cho kết quả ở mức rất tốt, tốt và khá. Sau phẫu thuật người bệnh đánh giá ở mức tốt và rất tốt. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp với kết quả chăm sóc (p &lt; 0,001), chưa tìm thấy mối liên quan giữa kết quả điều trị, chăm sóc với nhóm tuổi, BMI, phân loại ASA, trình độ học vấn, bệnh sử và thời gian PT (p &gt; 0,05).</p> Phan Thị Dung, Lê Minh Thuyết Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1849 Mon, 01 Jun 2026 07:45:08 +0000 Tiêm tinh tử tròn vào bào tương noãn và các thách thức ở nam giới vô tinh https://vjog.vn/journal/article/view/1850 <p>Tiêm tinh tử tròn vào bào tương noãn là một kỹ thuật hỗ trợ sinh sản dành cho nam giới mắc vô tinh không do tắc, khi không thể thu nhận được tinh trùng trưởng thành. Đây có thể là lựa chọn duy nhất mang lại cơ hội có con sinh học của chính bệnh nhân. Về mặt lý thuyết, tinh tử tròn mang bộ nhiễm sắc thể đơn bội có thể kết hợp với noãn để tạo thành hợp tử. Tuy nhiên, hiệu quả lâm sàng của kỹ thuật tinh tử tròn tiêm vào bào tương noãn (Round spermatid injection - ROSI) hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Bài tổng quan này nhằm mục đích làm rõ về tình hình phát triển và những thách thức lớn mà kỹ thuật ROSI đang phải đối mặt, bao gồm khó khăn trong việc nhận diện chính xác tinh tử tròn, khả năng hoạt hóa noãn kém của tinh tử tròn và nguy cơ bất thường thượng di truyền có thể ảnh hưởng đến sự phát triển phôi. Việc hiểu rõ các rào cản này là cơ sở để tiếp tục cải tiến kỹ thuật và đánh giá đúng tiềm năng ứng dụng ROSI trong điều trị vô sinh nam.</p> Hồ Lan Trâm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1850 Mon, 01 Jun 2026 07:50:13 +0000 Nhân một trường hợp thai ngoài tử cung sau phúc mạc https://vjog.vn/journal/article/view/1866 <p><strong>Tóm tắt: </strong>Tỷ lệ thai ngoài tử cung sau phúc mạc rất hiếm gặp, chiếm tỉ lệ dưới 1% thai ngoài tử cung. Thai ngoài tử cung sau phúc mạc có thể được chia thành hai loại: thai ngoài tử cung ở vị trí vùng chậu và thai ngoài tử cung ở vị trí bụng. Chúng tôi giới thiệu một trường hợp thai ngoài tử cung khoang sau phúc mạc nằm cạnh bên phải tĩnh mạch chủ bụng, trên rốn tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi vào tháng 6/2025.</p> <p><strong>&nbsp;Giới thiệu ca bệnh: </strong>Đây là một trường hợp thai lạc chỗ khoang sau phúc mạc hiếm gặp ở Việt Nam và trên thế giới được chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh được các biến chứng nguy hiểm cho thai phụ.</p> <p><strong>Dấu hiệu lâm sàng: </strong>Bệnh nhân nữ, 28 tuổi, PARA 1021, mổ lấy thai một lần, vào viện vì đau bụng dữ dội vùng quanh rốn; không có ra máu âm đạo; bụng ấn đau không cảm ứng phúc mạc, mạch nhanh, huyết áp tụt do choáng mất máu. <strong>Chẩn đoán can thiệp: </strong>Bệnh nhân được kiểm tra siêu âm tử cung phần phụ thấy không có bất thường; siêu âm ổ bụng theo dõi thai trong ổ bụng. Xét nghiệm định lượng β-hCG là 9988 mIU/mL. Thai phụ được chẩn đoán thai trong ổ bụng và có chỉ định mổ cấp cứu.</p> <p><strong>Điều trị: </strong>Trong quá trình mổ nội soi thám sát ghi nhận vị trí túi thai nằm ở khoang sau phúc mạc, ngay sát động tĩnh mạch chủ bụng đoạn trên rốn, do diện nhau bám chảy máu nhiều kèm vị trí thai bám phức tạp gần nhiều mạch máu lớn, bóc tách cũng khó, phương tiện mổ nội soi chưa được đầy đủ, bụng hơi chướng, quai ruột dãn chướng nhẹ, nên chúng tôi chuyển phẫu thuật mở bụng lấy khối thai. Sau phẫu thuật, nồng độ β-hCG giảm dần, bệnh nhân ổn định và ra viện sau 7 ngày.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Thai ngoài tử cung sau phúc mạc khó chẩn đoán do hiếm gặp và các triệu chứng không đặc hiệu. Chẩn đoán sớm dựa vào xét nghiệm β-hCG huyết thanh, siêu âm bụng. Khi β-hCG tăng cao và không tìm thấy túi thai trong tử cung hoặc tại các vị trí lạc chỗ phổ biến, nên nghĩ đến chẩn đoán thai ngoài tử cung sau phúc mạc. Phẫu thuật cắt bỏ là phương pháp được lựa chọn tốt nhất cho phương pháp điều trị thai ngoài tử cung.</p> Đinh Thị Mỹ Hòa, Nguyễn Đình Tuyến Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/1866 Mon, 01 Jun 2026 07:57:02 +0000 Tuyên bố chung của FIGO-ICM về khuyến nghị sử dụng thuốc co hồi tử cung trong dự phòng băng huyết sau sinh https://vjog.vn/journal/article/view/2005 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/2005 Fri, 05 Jun 2026 02:55:29 +0000 Tăng nguy cơ rối loạn chức năng sàn chậu sau cắt tử cung: phát hiện quan trọng mới từ nghiên cứu https://vjog.vn/journal/article/view/2006 VJOG.vn Quản trị hệ thống Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/2006 Fri, 05 Jun 2026 02:57:08 +0000 Phác đồ kích thích buồng trứng bằng progestin (PPOS): Ứng dụng lâm sàng https://vjog.vn/journal/article/view/2007 VJOG.vn Quản trị hệ thống Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://vjog.vn/journal/article/view/2007 Fri, 05 Jun 2026 02:58:27 +0000