Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal <p>Tạp chí Phụ Sản (ISSN 1859–3844, DOI: 10.46755/vjog)&nbsp; sẽ công bố các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết tổng quan cũng như các báo cáo trường hợp lâm sàng đặc biệt, liên quan đến các lĩnh vực sản phụ khoa, sơ sinh và nội tiết sinh sản, vô sinh được xuất bản định kỳ mỗi quý (4 số mỗi năm) và một số số đặc biệt.&nbsp;&nbsp;Bài viết gởi về tòa soạn cần tuân thủ quy định về hình thức của tạp chí và theo quy trình <a href="https://vjog.vn/journal/quy-trinh">tại đây</a>.</p> <p>Mỗi bài viết sẽ được nhận xét bởi 2 phản biện độc lập do Ban biên tập giới thiệu, là những chuyên gia về các lĩnh vực liên quan, để nhận xét tính mới, ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của mỗi bài viết và chấp nhận đăng. Tác giả bài viết sẽ chịu trách nhiệm về nội dung bài của mình và có trách nhiệm phản hồi với mọi ý kiến của độc giả sau khi công bố.</p> <p>Mỗi bài báo khoa học được chấp nhận đăng trên tạp chí phụ sản được Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đánh giá 0,5 điểm/công trình về mặt đóng góp khoa học.&nbsp;</p> Đại học Y Dược Huế vi-VN Tạp chí Phụ sản 1859-3844 <p>Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền</p> Tinh trùng Globozoospermia: Cơ chế hình thành và hướng tiếp cận điều trị https://vjog.vn/journal/article/view/1214 <p>Tinh trùng đầu tròn và không có acrosome hay còn gọi globozoospermia là một trong những bất thường nặng về hình dạng tinh trùng, chiếm tỉ lệ 0,1% trường hợp vô sinh do nam giới. Nguyên nhân của tinh trùng globozoospermia do đột biến hoặc thiếu hụt các gen chịu trách nhiệm chính trong việc hình thành và liên kết acrosome ở tinh trùng. Cho đến nay, đã có 4 gen được xác định là nguyên nhân của tinh trùng globozoospermia bao gồm các gen có liên quan đến sự hình thành acrosome (PICK1, SPATA16) và gen có chức năng liên kết acrosome và nhân tinh trùng (DPY19L2 và SPACA1). Trong đó, sự thiếu hụt gen mã hóa protein DPY19L2 ở người được cho là nguyên nhân chính dẫn đến trường hợp globozoospermia. Đối với những trường hợp này thì kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) kết hợp kỹ thuật hỗ trợ hoạt hóa noãn (AOA) là phương pháp tối ưu giúp cải thiện kết quả điều trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng của kỹ thuật AOA đến chất lượng trẻ sinh sống vẫn chưa được làm rõ và các nghiên cứu về kết quả lâm sàng của trường hợp globozoospermia vẫn còn hạn chế. Bài tổng quan này sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về cơ chế hình thành tinh trùng globozoospermia và hướng tiếp cận hiện nay đối với trường hợp này.</p> Võ Minh Tuấn Đặng Thị Huyền Trang Phan Thị Kim Anh Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-30 2021-11-30 19 2 9 14 10.46755/vjog.2021.2.1214 Chín muồi cổ tử cung bằng phương pháp đặt bóng: Từ cơ chế đến ứng dụng lâm sàng dựa trên bằng chứng https://vjog.vn/journal/article/view/1217 <p>Cổ tử cung không thuận lợi là một thách thức trong khởi phát chuyển dạ với mục tiêu sinh đường âm đạo. Trong đó, Prostaglandin, đặc biệt là Prostaglandin E2, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân giải, phá vỡ cấu trúc collagen dẫn đến chín muồi cổ tử cung. Các phương pháp cơ học làm chín muồi cổ tử cung bằng cơ chế tăng áp lực trực tiếp lên cấu trúc cổ tử cung và màng ối. Qua đó giải phóng các Prostaglandin từ màng rụng và cổ tử cung. Phương pháp cơ học phổ biến hiện nay là đặt bóng, thường sử dụng đặt sonde Foley qua kênh cổ tử cung vào khoảng giữa màng ối và lỗ trong cổ tử cung. Đặt bóng có hiệu quả làm chín muồi cổ tử cung cao, giúp cải thiện chỉ số Bishop và giảm tỷ lệ các tác dụng phụ như cơn gò tử cung cường tính hoặc nhịp tim thai bất thường so với các phương pháp hoá học. Đồng thời, đặt bóng có thể kết hợp sử dụng oxytocin để tăng hiệu quả và tăng khả năng khởi phát chuyển dạ. Bài tổng quan mô tả phương pháp và hiệu quả của phương pháp đặt bóng làm chín muồi cổ tử cung, qua đó đánh giá đầy đủ về khả năng áp dụng hiện nay.</p> Ngô Đình Triệu Vỹ Trần Mạnh Linh Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-10-29 2021-10-29 19 2 15 21 10.46755/vjog.2021.2.1217 Những cập nhật trong điều trị rối loạn chuyển hóa – nội tiết trên phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang https://vjog.vn/journal/article/view/1198 <p>Điều trị hỗ trợ sinh sản cho phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang (HC BTĐN) thừa cân – béo phì gặp nhiều thách thức như cần dùng liều gonadotropin cao hơn, dễ sẩy thai và giảm tỉ lệ thai sinh sống. Dù metformin được kê toa rộng rãi cho phụ nữ HC BTĐN, hiệu quả của thuốc này còn gây nhiều tranh cãi. Trong khi đó, nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 (liraglutide và exenatide) giúp phụ nữ HC BTĐN thừa cân – béo phì giảm cân đáng kể, giảm mỡ tạng, giảm androgen máu, cải thiện chu kì kinh nguyệt, tăng tỉ lệ đậu thai khi điều trị thụ tinh trong ống nghiệm cũng như gia tăng tỉ lệ có thai tự nhiên. Đối với trẻ gái HC BTĐN dù không béo phì thì tình trạng cường insulin máu song hành với cường androgen cũng không phải là hiếm gặp, và liên quan với dư thừa mỡ gan – mỡ tạng. Phối hợp ba thuốc (SPIOMET) làm giảm đáng kể tỉ lệ mỡ tạng, giảm androgen máu bền vững hơn, và nâng tỉ lệ rụng trứng cao gấp ba lần so với thuốc viên ngừa thai phối hợp.</p> Lý Đại Lương Trần Thị Ngọc Mai Hồ Ngọc Anh Vũ Hồ Mạnh Tường Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-10-29 2021-10-29 19 2 22 26 10.46755/vjog.2021.2.1198 Tỉ lệ và đặc điểm khuyết sẹo mổ lấy thai ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai đến khám tại Bệnh viện Mỹ Đức https://vjog.vn/journal/article/view/1225 <p><strong>Giới thiệu</strong>: Hiệp hội Siêu âm sản phụ khoa quốc tế đã đưa ra đồng thuận trong chẩn đoán và mô tả cụ thể các đặc điểm hình thái của khuyết sẹo mổ lấy thai vào năm 2019. Khuyết sẹo mổ lấy thai cũng được ghi nhận là một nguyên nhân của hiếm muộn thứ phát. Chưa có nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ và đặc điểm thái của khuyết sẹo mổ lấy thai ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai với tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng.</p> <p><br><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Xác định tỉ lệ, đặc điểm hình thái của khuyết sẹo mổ lấy thai và các yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ lấy thai ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai.</p> <p><br><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang toàn bộ những phụ nữ có tiền căn mổ lấy thai đến khám hiếm muộn tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Mỹ Đức, thành phố Hồ Chí Minh từ 10/2020 đến 03/2021. Phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu bằng bảng câu hỏi. Siêu âm đầu dò âm đạo đánh giá khuyết sẹo mổ lấy thai được thực hiện thường qui theo Hướng dẫn của Hiệp hội Siêu âm sản phụ khoa quốc tế. Hồi qui logistic được sử dụng để đánh giá các yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ lấy thai.</p> <p><br><strong>Kết quả:</strong> Có 340 phụ nữ được nhận vào nghiên cứu. 125 phụ nữ có khuyết sẹo (36,8%). Khuyết đơn giản chiếm 89,6%, khuyết đơn giản với 1 nhánh phụ là 8,8%, và khuyết phức tạp là 1,6%. Chiều sâu, độ dày cơ tử cung còn lại, và độ dày cơ tử cung cạnh sẹo lần lượt là 4,5 [3,0 – 6,1] mm, 4,0 [3,0 – 5,2] mm và 9,1 [8,0 – 11,2] mm. Yếu tố liên quan đến khuyết sẹo: tử cung ngã sau (PR* = 2,44; KTC 95% = 1,51 – 3,96; p* &lt; 0,001) và thời gian từ lúc mổ lấy thai đến khi khám hiếm muộn ≥120 tháng (PR* = 3,20, KTC 95% = 1,16 – 8,83; p* = 0,025).</p> <p><br><strong>Kết luận:</strong> Khuyết sẹo mổ lấy thai khá phổ biến ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai. Khuyết sẹo hầu hết thuộc loại đơn giản. Tử cung ngã sau và thời gian từ lúc mổ lấy thai đến khi khám hiếm muộn dài có liên quan đến khả năng cao phát hiện khuyết sẹo mổ lấy thai.</p> La Văn Minh Tiến Hồ Ngọc Anh Vũ Lý Thiện Trung Vương Thị Ngọc Lan Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-10-29 2021-10-29 19 2 27 33 10.46755/vjog.2021.2.1225 Đặc điểm lâm sàng theo y học cổ truyền ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang https://vjog.vn/journal/article/view/1222 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng theo y học cổ truyền (YHCT) và tìm hiểu sự khác nhau của một số yếu tố giữa các thể lâm sàng ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Mô tả cắt ngang trên 102 bệnh nhân nữ vô sinh có HCBTĐN tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Lưỡi to bệu/có dấu răng 60,8%, rêu trắng 94,1%, mạch trầm 92,2%, mạch sác 27,5%, mạch tế 55,9%, mệt mỏi hoặc hay quên 86,3%, kinh nguyệt không đều 71,6%, kinh nguyệt sau kì 53,9%. Thể thận hư can uất 42,2%, đàm ứ tương kết 26,5%, thận hư huyết ứ 17,6%, tỳ hư đàm thấp 13,7%. Có sự khác biệt về chỉ số khối cơ thể (BMI) và chu vi vòng bụng giữa các thể lâm sàng, p&lt;0,05.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Các triệu chứng lâm sàng theo YHCT ở bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN xuất hiện khá phổ biến. Thể tỳ hư đàm thấp và thể đàm ứ tương kết có BMI và chu vi vòng bụng cao hơn thể thận hư huyết ứ và thận hư can uất.</p> Nguyễn Thị Kim Liên Nguyễn Quang Tâm Lê Minh Tâm Đoàn Văn Minh Bản quyền (c) 2021-10-29 2021-10-29 19 2 34 40 10.46755/vjog.2021.2.1222 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát https://vjog.vn/journal/article/view/1224 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhắm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nguyên nhân vô sinh của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát. Đồng thời, tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng vô sinh nguyên phát.</p> <p><strong>Đối tượng phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang 91 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản được chẩn đoán vô sinh nguyên phát, đến khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế từ tháng 5/2020 đến tháng 4/2021.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nguyên nhân vô sinh do cả 2 vợ chồng là 54,9%, trong đó vô sinh nam chiếm 21,3% và vô sinh nữ chiếm 18,7%. Nguyên nhân vô sinh nữ chủ yếu là rối loạn phóng noãn (62,6%) mà phần lớn là nguyên nhân PCOS (Polycystic Ovary Syndrome-hội chứng buồng trứng đa nang) (40,6%). Tỷ lệ vô sinh nguyên phát ở nhóm có chu kỳ kinh nguyệt không đều cao hơn so với nhóm có chu kỳ kinh nguyệt đều, tỷ lệ tương ứng là 82% so với 63,4% (OR= 2,6; 95% CI: 1,02 – 6,81; p=0,04). Nguyên nhân vô sinh nam chủ yếu là bất thường tinh trùng (78%). Ngoài ra, có 9,9% trường hợp có giãn tĩnh mạch thừng tinh. Tỷ lệ bất thường tinh dịch đồ ở nhóm đứt gãy DNA tinh trùng cao và trung bình cao hơn nhiều so với nhóm DFI (DNA fragmentation index - chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng) thấp (tỷ lệ tương ứng là 82,1% và 81,5% so với 54,5%) với p=0,048. Không có mối liên quan giữa độ tuổi, BMI (Body mass index- chỉ số khối cơ thể) với tỷ lệ vô sinh nguyên phát ở 2 giới. </p> <p><strong>Kết luận:</strong> Vô sinh nguyên phát có nguyên nhân đồng thời cả nam giới và nữ giới chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó nguyên nhân phổ biến nhất bao gồm rối loạn phóng noãn và tinh dịch đồ bất thường. Đặc điểm chu kỳ kinh nguyệt và kết quả phân mảnh DNA tinh trùng là những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng sinh sản ở nữ giới và nam giới.&nbsp;</p> Nguyễn Đắc Nguyên Trần Thị Thu Trần Đức Thịnh Lê Minh Tâm Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-01 2021-11-01 19 2 41 47 10.46755/vjog.2021.2.1224 Đánh giá lối sống của thai phụ trước khi được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ https://vjog.vn/journal/article/view/1205 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát lối sống của các thai phụ bao gồm chế độ ăn uống và hoạt động thể chất trước thời điểm chẩn đoán ĐTĐTK. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Đây là một nghiên cứu báo cáo loạt ca khảo sát lối sống của 558 thai phụ được chẩn đoán Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) bằng nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose – 2 giờ tại thời điểm thai 24 – 28 tuần được quản lý thai kỳ tại bệnh viện Mỹ Đức trong thời gian từ 01/2021 đến 07/2021. </p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu ghi nhận thai phụ có thói quen ăn nhiều chất bột đường, trái cây ngọt và ít rau củ, đặc biệt thiếu chất xơ trầm trọng vào bữa điểm tâm. Hơn một nửa thai phụ có thói quen thường xuyên dùng các thức uống có đường. 83% thai phụ không vận động hoặc chỉ vận động &lt; 15 phút/ngày, do lo ngại nguy cơ sẩy thai hoặc sanh non. Số lần tập thể dục trung bình trong một tuần 2,09 lần, quá ít so với khuyến cáo. </p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin cho công tác tư vấn dinh dưỡng, thay đổi lối sống cho các thai phụ Việt Nam để phòng ngừa ĐTĐTK.</p> Lý Đại Lương Trần Thị Ngọc Mai Trần Vũ Lan Hương Trần Thái Hữu Lộc Tô Mỹ Anh Hồ Ngọc Anh Vũ Nguyễn Thành Nam Trần Thị Thu Vân Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-01 2021-11-01 19 2 48 53 10.46755/vjog.2021.2.1205 Đái tháo đường thai kỳ tăng tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B https://vjog.vn/journal/article/view/1192 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và liên quan đến nguy cơ mang liên cầu khuẩn nhóm B tại thời điểm 35 - 37 tuần. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu đoàn hệ, tiến cứu trên 1.574 sản phụ quản lý thai kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ 01/2019 - 01/2020. Sàng lọc và chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ bằng nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose - 2 giờ tại thời điểm 24 - 28 tuần, liên cầu khuẩn nhóm B được xét nghiệm bằng mẫu dịch âm đạo khi thai 35 - 37 tuần. Tất cả thai phụ được quản lý đến kết thúc thai kỳ. </p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ là 6,2% (98/1.574), nhóm đái tháo đường thai kỳ có tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B tại thời điểm 35 - 37 tuần cao hơn nhóm không bị đái tháo đường, 34,7% so với 16,3%, p &lt; 0,0001. Sản phụ bị đái tháo đường thai kỳ kèm mang liên cầu khuẩn nhóm B tăng nguy cơ sinh non (OR 4,9; 95%CI: 1,8 - 13,3), mổ lấy thai (OR 4,1; 95%CI: 1,7 - 9,9), tăng nguy cơ trẻ sơ sinh cần nhập Đơn vị chăm sóc tích cực (OR 2,9; 95%CI: 1,0 - 8,6) và nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh (OR 3,2; 95%CI: 1,1 - 9,3). Tuy nhiên, chưa phát hiện liên quan đến tỷ lệ nhiễm trùng sơ sinh sớm, tỷ lệ trẻ sơ sinh ngạt. </p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đái tháo đường thai kỳ tăng tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B tại thời điểm 35 - 37 tuần thai kỳ.</p> Phùng Thị Lý Nguyễn Thu Hoài Nguyễn Thị Hương Linh Nguyễn Thị Tân Sinh Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-01 2021-11-01 19 2 54 60 10.46755/vjog.2021.2.1192 Báo cáo loạt ca bệnh hiếm gặp: Ung thư buồng trứng trong thai kì https://vjog.vn/journal/article/view/1220 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Ung thư buồng trứng rất hiếm khi xảy ra trong thai kỳ, có tỷ lệ từ 0,2 - 3.8/100000 thai kỳ. Siêu âm là một công cụ có giá trị trong dự đoán bản chất lành hay ác tính của khối u buồng trứng dựa vào những mô hình IOTA. Chưa đủ bằng chứng để áp dụng mô hình tiên đoán lành ác các khối bướu buồng trứng trong thai kỳ. Mục tiêu của nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh siêu âm, phương pháp điều trị, kết cục sản khoa của các trường hợp ung thư buồng trứng trong thai kỳ. </p> <p><strong>Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu:</strong> Báo cáo hồi cứu được thực hiện từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2020 tại Bệnh viện Từ Dũ. Từ hồ sơ bệnh án, chúng tôi xác định các trường hợp có chẩn đoán khối u buồng trứng trong thai kỳ loại trừ các trường hợp có biến chứng và được phẫu thuật với kết quả giải phẫu bệnh là bướu ác tính.</p> <p><strong> Kết quả:</strong> Chúng tôi thu thập 3 trường hợp ung thư buồng trứng trong thai kỳ trong thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2020. Các thai phụ đều ở độ tuổi dưới 30 và được phẫu thuật cắt khối bướu trong thời gian tam cá nguyệt thứ hai (TCN II) của thai kỳ. Đặc điểm chung trên siêu âm của cả 3 trường hợp: khối bướu đều có kích thước lớn (&gt;100 mm) và có mô đặc với bờ không đều. Hai trong ba trường hợp có tăng sinh mạch máu mức độ 3. Khi áp dụng mô hình chẩn đoán, hai trường hợp thuộc nhóm có nguy cơ ác tính theo quy tắc đơn giản nhưng cả ba trường hợp có nguy cơ ác tính theo mô hình ADNEX, tương ứng với nhóm O-RADS 4 hoặc 5. Kết cục thai kỳ: có 2 trường hợp thai đủ tháng, sinh thường và 1 trường hợp chấm dứt lúc thai 35 tuàn và đều có hóa trị trong thai kỳ. </p> <p><strong>Kết luận:</strong> Sử dụng các mô hình tiên đoán của nhóm IOTA như: quy tắc đơn giản, ADNEX, phân nhóm O-RADS có thể có giá trị cao trong phân định nguy cơ ác tính của khối bướu buồng trứng trong thai kỳ. Hóa trị có thể được thực hiện trong thai kỳ khi có chỉ định. Hóa trị có thể thực hiện trong thai kỳ và kết cục cho thai bước đầu ghi nhận khả quan.</p> Nguyễn Hồng Hoa Phạm Duy Hùng Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-01 2021-11-01 19 2 61 66 10.46755/vjog.2021.2.1220 Mạch máu tiền đạo: Báo cáo trường hợp https://vjog.vn/journal/article/view/1228 <p>Mạch máu tiền đạo là một bệnh lý hiếm gặp có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai, là nguyên nhân dẫn đến chảy máu nhiều và đặc biệt đe dọa đến tính mạng thai nhi. Chẩn đoán sớm và kịp thời góp phần cải thiện kết cục thai kỳ cho thai nhi. Ca bệnh là sản phụ 35 tuổi mang thai lần 3, PARA 2002, tuổi thai 27 tuần 5 ngày nhập viện Phòng Tiền sản - Bệnh viện Trung ương Huế vì ra máu âm đạo lượng ít. Bệnh nhân được chẩn đoán mạch máu tiền đạo và được điều trị nội khoa tích cực. Tại tuần thai thứ 32, bệnh nhân ra máu âm đạo, xử trí mổ cấp cứu lấy thai. Kết cục thai kỳ an toàn đối với sản phụ và thai nhi. Chẩn đoán mạch máu tiền đạo bằng siêu âm thai là tiêu chuẩn vàng xác định bất thường. Mạch máu tiền đạo phần lớn được phát hiện trong những lần khám siêu âm định kỳ 3 vào tháng cuối. Lựa chọn chiến lược thích hợp trong quá trình chăm sóc thai kỳ là cần thiết. Ở tuổi thai 28 - 32, khuyến cáo điều trị trưởng thành phổi thai nhi, giảm go, mổ lấy thai chủ động từ 34/07 tuần đến 36/7 nếu không có biến chứng xảy ra là biện pháp giảm các kết cục bất lợi cho mẹ và thai. Mặc dù mạch máu tiền đạo không thường gặp trên lâm sàng, tuy nhiên những kết cục của mạch máu tiền đạo nếu không được chẩn đoán rất nặng nề cho cả mẹ và thai nhi. Khuyến cáo nên sàng lọc và chẩn đoán sớm mạch máu tiền đạo để có hướng xử trí thích hợp, nhất là ở những sản phụ có nguy cơ.</p> Nguyễn Trần Thảo Nguyên Trần Minh Thắng Lê Minh Toàn Lê Thị Loan Trinh Lê Trí Bảo Châu Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-01 2021-11-01 19 2 67 71 10.46755/vjog.2021.2.1228 Vỡ tử cung tại sẹo mổ cũ trên bệnh nhân mang thai quý hai do rau cài răng lược: Trường hợp lâm sàng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và tổng hợp y văn https://vjog.vn/journal/article/view/1189 <p>Sẹo mổ cũ kèm theo rau tiền đạo là một trong những yếu tố nguy cơ cao nhất cho bệnh lý rau cài răng lược, đặc biệt những trường hợp rau cài răng lược tại sẹo mổ cũ có nguy cơ vỡ tử cung cao hơn so với trường hợp có sẹo mổ cũ đơn thuần. Chúng tôi báo cáo hai trường hợp vỡ tử cung tự phát tại sẹo mổ cũ trên nền rau cài răng lược gặp tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ở quý hai của thai kỳ. Ghi nhận lúc vào viện đều có biểu hiện sớm của sốc giảm tuần hoàn do chảy máu trong ổ bụng và cả hai đều được phẫu thuật cấp cứu nhằm mục tiêu đảm bảo tính mạng của mẹ, trong đó một trường hợp phải cắt tử cung và một trường hợp bảo tồn tử cung. Quá trình hậu sản của cả hai trường hợp đều ổn định.</p> Đỗ Tuấn Đạt Nguyễn Mạnh Trí Bản quyền (c) 2021 Tạp chí Phụ sản https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2021-11-01 2021-11-01 19 2 72 75 10.46755/vjog.2021.2.1189