Tạp chí Phụ sản
https://vjog.vn/journal
<p>Tạp chí Phụ Sản (ISSN 1859–3844, DOI: 10.46755/vjog) sẽ công bố các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết tổng quan cũng như các báo cáo trường hợp lâm sàng đặc biệt, liên quan đến các lĩnh vực sản phụ khoa, sơ sinh và nội tiết sinh sản, vô sinh được xuất bản định kỳ mỗi quý (4 số mỗi năm) và một số số đặc biệt. Bài viết gởi về tòa soạn cần tuân thủ quy định về hình thức của tạp chí và theo quy trình <a href="https://vjog.vn/journal/quy-trinh">tại đây</a>.</p> <p>Mỗi bài báo khoa học được chấp nhận đăng trên tạp chí phụ sản được Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đánh giá <strong>0,75</strong> điểm/công trình về mặt đóng góp khoa học. </p> <p>Mỗi bài viết sẽ được nhận xét bởi 2 phản biện độc lập do Ban biên tập giới thiệu, là những chuyên gia về các lĩnh vực liên quan, để nhận xét tính mới, ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của mỗi bài viết và chấp nhận đăng. Tác giả bài viết sẽ chịu trách nhiệm về nội dung bài của mình và có trách nhiệm phản hồi với mọi ý kiến của độc giả sau khi công bố.</p>Đại học Y Dược Huếvi-VNTạp chí Phụ sản1859-3844<p>Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền</p>Thuốc tránh thai kết hợp và nguy cơ huyết khối: Tối ưu lợi ích và tối thiểu nguy cơ
https://vjog.vn/journal/article/view/1876
<p><span style="font-weight: 400;">Sự tiến bộ của thuốc viên tránh thai kết hợp (VTTKH), nhấn mạnh sự chuyển đổi từ các công thức chứa estrogen liều cao sang các lựa chọn liều thấp hơn, đặc biệt là những viên chứa drospirenone, đã cho thấy tính an toàn của VTTKH được cải thiện. Các bằng chứng hiện tại chỉ ra rằng liều estrogen thấp hơn làm giảm đáng kể nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) và đột quỵ so với các liều cao hơn, trong khi vẫn duy trì hiệu quả tránh thai. Là những người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chúng ta cần đánh giá các yếu tố sức khỏe cá nhân và nguy cơ tiềm ẩn khi khuyến nghị các lựa chọn tránh thai, đảm bảo rằng phụ nữ được thông tin đầy đủ và được theo dõi về bất kỳ thay đổi sức khỏe nào trong suốt quá trình sử dụng thuốc VTTKH. Cuối cùng, sự hiểu biết này cho phép tối ưu hóa lợi ích của thuốc tránh thai hormone kết hợp trong khi giảm thiểu các rủi ro liên quan, tạo điều kiện cho những lựa chọn sinh sản an toàn hơn cho phụ nữ.</span></p>Đặng Thị Minh NguyệtTăng Văn DũngNguyễn Tuấn Minh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-242025-12-24233111510.46755/vjog.2025.3.1876Mối liên quan giữa chế độ ăn Địa Trung Hải và thai nhỏ so với tuổi thai: Tổng quan mô tả
https://vjog.vn/journal/article/view/1896
<p><span style="font-weight: 400;">Chế độ ăn Địa Trung Hải là một mô hình ăn uống lành mạnh được công nhận trên toàn cầu. Tổng quan mô tả nhằm mục đích đánh giá mối liên hệ giữa sự tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải của thai phụ và nguy cơ sinh trẻ nhỏ so với tuổi thai. Chúng tôi đã tìm kiếm trên PubMed, Web of Science và Cochrane Library từ khi thành lập đến ngày 01 tháng 01 năm 2025. Tổng cộng có 11 nghiên cứu (3 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCTs) và 8 nghiên cứu đoàn hệ) đã được đưa vào nghiên cứu. </span></p> <p><span style="font-weight: 400;">Kết quả gợi ý rằng sự tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải trong thai kỳ và nguy cơ thai nhỏ so với tuổi thai thấp. Cần có thêm các RCT chất lượng cao để định những kết quả này, hỗ trợ các khuyến nghị lâm sàng về dinh dưỡng cho bà mẹ. </span></p>Huỳnh Nguyệt ÁnhNguyễn Thị HoànHồ Thị Thúy Hằng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-242025-12-24233162010.46755/vjog.2025.3.1896Xử trí rau tiền đạo - rau cài răng lược trên sản phụ có mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1905
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nhận xét kết quả xử trí rau tiền đạo - rau cài răng lược trên sản phụ có mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Tất cả 120 trường hợp được chẩn đoán và điều trị rau tiền đạo - rau cài răng lược (RTĐ-RCRL), tuổi thai </span><span style="font-weight: 400;">> </span><span style="font-weight: 400;">22 tuần có tiền sử mổ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/01/2024 đến 30/6/2024. </span></p> <p><strong>Thiết kế nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Hồi cứu mô tả cắt ngang dựa trên hồ sơ bệnh án. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Kết quả chẩn đoán cho thấy, tỉ lệ rau tiền đạo đơn thuần: 42,5%; thể bám chặt: 23,3%; thể rau cài: 24,2%; thể xuyên cơ: 10,0%. Tuổi thai trung bình khi mổ: 34,1 ± 3,4 tuần, mổ cấp cứu: 48,0% và mổ chủ động: 62,0%. Đa số các trường hợp rạch da đường ngang trên vệ: 90%; tỉ lệ bảo tồn tử cung khá cao 63,3%, trên tất cả các thể RTĐ-RCRL. Thể RTĐ-RCRL càng nặng thì tỉ lệ cắt tử cung, không bóc rau, thời gian lấy thai và thời gian phẫu thuật, lượng máu truyền trung bình càng tăng lên, tuy nhiên truyền máu </span><span style="font-weight: 400;">> </span><span style="font-weight: 400;">4 đơn vị gặp trong tất cả các thể. Tỉ lệ tai biến phẫu thuật thấp chỉ chiếm 5%. Chỉ số Apgar < 7 điểm chiếm 23,3%; </span><span style="font-weight: 400;">> </span><span style="font-weight: 400;">7 điểm chiếm 76,7%. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Xử trí rau tiền đạo- rau cài răng lược trên sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương là hợp lý và thành công. Tuy nhiên, tỉ lệ cắt tử cung cao và biến chứng chảy máu nặng vẫn còn là thách thức. </span></p>Phạm Huy Hiền HàoHoàng Tiến DũngPhạm Thị Yến
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-212025-12-21233212510.46755/vjog.2025.3.1905Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các chỉ định mổ lấy thai lần đầu tại Khoa Sản, Bệnh viện Bạch Mai
https://vjog.vn/journal/article/view/1879
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các chỉ định mổ lấy thai lần đầu tại Khoa Sản, Bệnh viện Bạch Mai. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 203 sản phụ có chỉ định mổ lấy thai lần đầu từ tháng 01/2024 đến 06/2025. Các biến số thu thập gồm tuổi mẹ, tuổi thai, số lần đẻ, thời gian nằm viện, các xét nghiệm huyết học, đông máu, sinh hóa và chỉ định mổ lấy thai. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tuổi mẹ trung bình 30,3 ± 6,1 tuổi; tuổi thai trung bình 36,5 ± 3,0 tuần; 65,02% là đẻ lần đầu. Mổ cấp cứu chiếm 62,56%. Một số sản phụ có tình trạng thiếu máu, protein niệu dương tính 29,1%, men gan tăng ở một số trường hợp, gợi ý tình trạng viêm, tiền sản giật hoặc tổn thương gan. Chỉ định mổ do nguyên nhân từ mẹ chiếm tỉ lệ cao nhất (56,7%), tiếp theo là phần phụ của thai (17,2%), lý do xã hội (15,3%) và nguyên nhân từ thai (10,8%). Trong đó, lý do xã hội là nguyên nhân đơn lẻ thường gặp nhất. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Mổ lấy thai lần đầu tại Khoa Sản, Bệnh viện Bạch Mai thường gặp ở sản phụ trẻ, mổ con so, với tỉ lệ mổ cấp cứu cao. Nhiều trường hợp có bất thường cận lâm sàng liên quan đến bệnh lý thai kỳ. Lý do xã hội vẫn chiếm tỉ lệ đáng kể, nhấn mạnh vai trò của tư vấn sản khoa và tối ưu hóa chỉ định mổ. </span></p>Đặng Văn TốtVũ Văn DuNguyễn Phương TúNguyễn Thị HằngTrần Minh ĐứcChu Quang ChiếnTrần Minh ĐứcĐỗ Thanh Tùng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233263110.46755/vjog.2025.3.1879Đặc điểm siêu âm của các thai phụ song thai một bánh rau hai buồng ối mắc hội chứng song thai không tim tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
https://vjog.vn/journal/article/view/1908
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả đặc điểm siêu âm của các thai phụ song thai một bánh rau hai buồng ối mắc hội chứng song thai không tim tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu can thiệp kết hợp theo dõi dọc trên 15 thai phụ được chẩn đoán song thai không tim đã phẫu thuật trong bào thai, sinh con tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và theo dõi sơ sinh ít nhất 6 tháng sau sinh trong khoảng thời gian từ 01/2020 đến 12/2021. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tuổi thai trung bình khi thăm khám là 19 tuần. 100% các trường hợp thai bơm máu không có bất thường về hình thái, 20% có thai chậm tăng trưởng kèm theo, 20% có dây rốn bám mép, màng. Siêu âm chẩn đoán bệnh có 100% ca xuất hiện hình ảnh dòng máu động mạch chảy ngược đến thai không tim, đa ối ở thai bơm máu cũng thiểu ối ở thai nhận máu. Ngoài ra 53,33% song thai không tim thuộc nhóm thai không tim phát triển khung chậu và chi dưới. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Song thai không tim được can thiệp có 100% thai bơm máu không có bất thường hình thái. Dấu hiệu Doppler động mạch rốn thấy hình ảnh dòng máu động mạch chảy ngược đến thai không tim là tiêu chuẩn chính giúp chẩn đoán.</span></p>Phan Thị Huyền ThươngĐỗ Tuấn ĐạtNguyễn Kiều Oanh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233323610.46755/vjog.2025.3.1908Dự đoán trọng lượng thai đủ tháng bằng phương pháp đo ngoài trên lâm sàng và một số yếu tố liên quan
https://vjog.vn/journal/article/view/1889
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Phân tích giá trị và xác định các yếu tố liên quan tới dự đoán trọng lượng thai bằng phương pháp đo ngoài trên lâm sàng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2024. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 268 sản phụ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 6/2024 đến tháng 12/2024. Tiến hành dự đoán trọng lượng thai nhi đủ tháng bằng phương pháp đo ngoài trên lâm sàng và so sánh với cân nặng thực tế của trẻ khi sinh; phân tích các yếu tố liên quan tới độ chính xác của phương pháp. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Cân nặng trung bình thực tế của trẻ lúc sinh là 3193,47 ± 354,85 gram. Cân nặng ước tính theo công thức lâm sàng trung bình là 3288,4 ± 195,04 gram. Sai số tuyệt đối giữa trọng lượng sau sinh với trọng lượng dự đoán trung bình là 94,96 gram, sai số tương đối trung bình là 3,95 %. Tỉ lệ dự đoán chính xác của Phương pháp đo ngoài trên lâm sàng là 75,4%. Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các đặc điểm của sản phụ, của thai và phần phụ thai, đặc điểm của trẻ sơ sinh trong nghiên cứu với độ chính xác dự đoán. Giới tính và cân nặng của trẻ lúc sinh có mối liên quan tới sai số phép đo. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phương pháp đo ngoài trên lâm sàng có giá trị dự đoán chính xác cao trọng lượng thai nhi lúc sinh. </span></p>Nguyễn Ngọc Minh HảiNguyễn Sơn HuyNguyễn Thị Bích Vân
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233374510.46755/vjog.2025.3.1889Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1903
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2024 - 2025. </span></p> <p><strong>Phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 340 sản phụ đẻ non tại bệnh viện phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Sản phụ có độ tuổi chủ yếu trong khoảng 20 - 34 tuổi, chiếm 70%. Sản phụ làm các nghề tự do chiếm 60,6%. Sản phụ không có bệnh lý mạn tính chiếm 87,9%, sản phụ có thai tự nhiên chiếm 72,1%. Sản phụ mang đơn thai chiếm 85%. Sản phụ quản lý thai tại phòng khám tư chiếm 82,4%. Có 190 sản phụ đẻ non tự nhiên chiếm 55,9% và 44,1% trường hợp đẻ non do chỉ định y khoa Về đẻ non tự nhiên: Có 42,1% sản phụ vào viện có ra nước âm đạo. 57,9% có cổ tử cung mở 1 - 3 cm. Có 64,7% các trường hợp cơn co tử cung tần số 1 - 3. Sản phụ được đo chiều dài cổ tử cung qua siêu âm đường âm đạo khi vào viện có kết quả bất thường (cổ tử cung < 25 mm hoặc chữ U, Y) chiếm tỉ lệ 17,9%. Về đẻ non do chỉ định y khoa: có 73,2% sản phụ tiền sản giật có dấu hiệu nặng. 84,4% các trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung có bất thường tim thai trên CTG; Ra máu âm đạo chiếm tỉ lệ cao nhất (76,6%) ở các bệnh nhân rau tiền đạo. Có 80,9% sản phụ rau tiền đạo trung tâm, 55,3% các trường hợp rau cài răng lược, trong đó thể Increta chiếm tỉ lệ cao nhất là 80,8%. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phần lớn sản phụ đẻ non trong nghiên cứu đều có dấu hiệu ra nước âm đạo và cổ tử cung mở. Sản phụ không được đo chiều dài cổ tử cung chiếm tỉ lệ lớn. </span></p>Nguyễn Thị Thùy LinhNguyễn Thị Thu HàNguyễn Thị Hồng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233465010.46755/vjog.2025.3.1903Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các sản phụ mắc đái tháo đường thai kỳ sinh con sau tuần thứ 34 tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
https://vjog.vn/journal/article/view/1911
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các sản phụ mắc đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) đã sinh con sau 34 tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa trên 150 sản phụ được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ và đã sinh con sau 34 tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 1 năm 2022 đến hết tháng 12 năm 2023. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tuổi trung bình của đối tượng là 35,9 ± 5,6 tuổi. Sản phụ con rạ chiếm đa số (73,3%), trong đó 15,4% có tiền sử bản thân và 17,4% có tiền sử gia đình liên quan đến ĐTĐTK. Nhóm thừa cân, béo phì trước mang thai có tỉ lệ tăng cân vượt khuyến nghị cao hơn (p < 0,05). Phần lớn sản phụ được điều trị bằng chế độ ăn (80,7%). Có 20,7% nhập viện vì vỡ ối </span><span style="font-weight: 400;">non, 16,7% vì dọa đẻ non và 63,3% sinh trước 37 tuần. Trên siêu âm, 68% thai > 90% BPV và 8,7% có đa ối. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Sản phụ ĐTĐTK nhập viện sinh con do ối vỡ non hoặc dọa đẻ non chiếm tỉ lệ khá cao (> 16%), chủ yếu sinh non < 37 tuần. Phần lớn sản phụ được điều trị ĐTĐTK bằng chỉnh chế độ ăn. Hình ảnh siêu âm phổ biến ở sản phụ ĐTĐTK là thai to > 90% BPV và đa ối.</span></p>Nguyễn Thị Phương LâmĐỗ Tuấn ĐạtTăng Xuân Hải
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233515610.46755/vjog.2025.3.1911Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ đẻ
https://vjog.vn/journal/article/view/1913
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Hà Đông và kết quả kết thúc chuyển dạ đối với các sản phụ và thai nhi. </span></p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả hồi cứu. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tuổi sản phụ của bốn nhóm nghiên cứu từ 18 đến 37. Tuổi trung bình là 26,6 ± 4,2. Chiều cao của sản phụ từ 148 cm đến 168 cm. Chiều cao trung bình là 157,97 ± 4,25. Cân nặng sản phụ từ 51 - 80 kg, trung bình là 64,06 ± 6,25. Độ mở CTC của sản phụ tại thời điểm làm giảm đau nhóm nghiên cứu đều trong khoảng từ 3 cm - 5 cm. Phần lớn các sản phụ trong nhóm nghiên cứu thuộc ASA I chiếm 82,2%. Trước gây tê, đa số các sản phụ cảm thấy đau nhiều với thang điểm VAS 7 - 8 (73,4%0 và 9 - 10 (23,3%). Điểm đau trung bình là 1,88 ± 0,76. Sau gây tê 15 phút, các sản phụ thấy đau nhẹ với thang điểm VAS 1 - 3 (92,2%) và 4 - 6 (7,8%). Trong 2 giờ đầu sau đẻ, tử cung co hồi tốt chiếm tỉ lệ 91,1%, có 8 trường hợp tử cung co hồi kém chiếm tỉ lệ 8,9%. Đa số các sơ sinh sau đẻ có chỉ số APGAR tốt > 8 điểm. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số APGAR sau 1 phút và sau 5 phút </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Điểm đau trung bình trước gây tê là 7,88 ± 0,76, sau gây tê 15 phút là 2,32 ± 0,78. Sau sinh, đa số các trường hợp co hồi tử cung tốt (91,1%). Chỉ số APGAR trung bình sau 1 phút là 9,0 ± 0,6, sau 5 phút là 9,5 ± 0,8 </span><strong>Từ khóa: </strong><span style="font-weight: 400;">giảm đau, gây tê ngoài màng cứng ,chuyển dạ đẻ, BVĐK Hà Đông. </span></p>Phạm Văn TựĐỗ Minh ThuLê Trường GiangBùi Thị Kim DungLê Quang Vinh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233576110.46755/vjog.2025.3.1913Nghiên cứu tỉ lệ bí tiểu sau sinh và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1904
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Xác định tỉ lệ bí tiểu sau sinhvà các yếu tố nguy cơ ở sản phụ sau sinh đường âm đạo hoặc sau mổ lấy thai ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 764 sản phụ sau đẻ đường âm đạo và sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 12/2024 đến 09/2025. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Trong 764 sản phụ, 249 trường hợp đẻ đường âm đạo và 515 trường hợp mổ lấy thai, tuổi mẹ trung bình là 30,9 ± 5,8 tuổi, tuổi thai trung bình là 37,8 ± 3,5 tuần. Tỉ lệ bí tiểu sau sinh chung là 8,5%, nhóm đẻ đường âm đạo có nguy cơ bí tiểu sau sinh cao gấp 2,5 lần nhóm mổ lấy thai với tỉ lệ lần lượt là 13,7% và 6,0%(KTC 1,48 - 4,12; p = 0,001). Ở nhóm đẻ đường âm đạo, các yếu tố nguy cơ làm tăng bí tiểu sau sinh gồm đẻ forceps (OR = 5,03; KTC 1,01 - 14,35; p = 0,025), chuyển dạ giai đoạn II kéo dài trên 30 phút (OR = 3,62; KTC 0,87 - 4,74; p = 0,002), truyền đẻ chỉ huy tĩnh mạch (OR = 2,31; KTC 1,11 - 4,82; p = 0,022), giảm đau trong đẻ (OR = 4,26; KTC 1,59 - 11,42; p = 0,002) và thai to (trên 3500 g) (OR = 3,03; KTC 1,30 - 7,04; p = 0,009). Ở nhóm mổ lấy thai, các sản phụ đã chuyển dạ có nguy cơ bí tiểu sau sinh cao hơn (OR = 2,22; KTC 2,03 - 9,32; p < 0,01). </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Bí tiểu sau sinh là tình trạng thường gặp, đặc biệt ở các sản phụ đẻ đường âm đạo. Nhóm sản phụ có nguy cơ cao nhưđẻ forceps, chuyển dạ giai đoạn II kéo dài, truyền đẻ chỉ huy tĩnh mạch, cắt tầng sinh môn, các trường hợp làm giảm đau trong đẻ, thai trên 3500 g và các trường hợp mổ lấy thai khi đã chuyển dạ cần được chủ động thăm khám, hướng dẫn bệnh nhân tập đi tiểu và can thiệp khi cần thiết. </span></p>Dương Thị Thu HàĐặng Thị Hồng ThiệnTạ Thị Hoài AnhNguyễn Thị Lan HươngĐỗ Xuân HoàiLê Xuân TrọngLê Thị HoaPhó Thị Quỳnh ChâuVũ Thị ThảoNguyễn Thị Thu Hà
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233626710.46755/vjog.2025.3.1904Đặc điểm bệnh lý và một số yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh non tháng điều trị tại Bệnh viện A Thái Nguyên
https://vjog.vn/journal/article/view/1878
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm bệnh lý và một số yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh non tháng điều trị tại Bệnh viện A Thái Nguyên năm 2024-2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 bệnh nhi sơ sinh non tháng điều trị tại Khoa Nhi - Bệnh viện A Thái Nguyên từ 01/07/2024 - 31/03/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Suy hô hấp là bệnh lý thường gặp nhất (94,6%), tiếp theo là rối loạn đông máu (63,8%), hạ glucose máu (36,2%), thiếu máu (20,0%), hạ thân nhiệt (20,0%) và rối loạn điện giải (13,6%). Suy hô hấp gặp nhiều hơn ở nhóm mổ lấy thai so với nhóm đẻ qua đường âm đạo (p = 0,01). Hạ thân nhiệt liên quan rõ rệt với tuổi thai(p = 0,013) và cân nặng (p = 0,003). Rối loạn điện giải gặp nhiều hơn ở nhóm cân nặng < 1500 g (p = 0,017). Các bệnh lý khác không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi thai, cân nặng, giới tính, phương pháp đẻ, tuổi mẹ hay bất thường trong thai kỳ.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Suy hô hấp là bệnh lý phổ biến nhất ở trẻ non tháng. Tuổi thai, cân nặng và phương pháp đẻ là những yếu tố liên quan chặt chẽ cần được lưu ý trong chăm sóc và dự phòng biến chứng ở trẻ sinh non.</p>Nguyễn Thị HồngBùi Thúy QuỳnhNguyễn Thị Xuân Hương
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-23233828910.46755/vjog.2025.3.1878Đặc điểm lâm sàng và kết quả nuôi dưỡng trẻ rất non tháng tại Trung tâm Sơ sinh - Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2024
https://vjog.vn/journal/article/view/1895
<p><strong>Mục tiêu: </strong>(1) Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ rất non tháng tại Trung tâm Sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2024; (2) Đánh giá kết quả nuôi dưỡng trẻ rất non tháng tại Trung tâm Sơ sinh - Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc 285 trẻ rất non tháng từ 28 - 32 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi thai trung bình của trẻ 30,3 ± 1,3 tuần; cân nặng trung bình lúc sinh 1350,0 ± 317,9 g. Tỉ lệ trẻ nhẹ cân so với tuổi thai lúc sinh 13,7%. Tỉ lệ trẻ thở máy 19,1%, thở Cpap 79,1% và 51,9% trẻ có bơm surfactant.</p> <p>Các mốc thời gian trẻ đạt ngưỡng ăn tiêu hóa hoàn toàn, về lại cân nặng lúc sinh, tốc độ tăng cân, chiều dài, vòng đầu đều đạt được như khuyến cáo. Thờigian nằm viện trung bình 33,0 ± 18,6 ngày, tuổi của trẻ lúc ra viện 35,2 ± 2,1 tuần, cân nặng đạt 1904,7 ± 378,5 gram. Tỉ lệ chậm tăng trưởng sau sinh (CTTSS) 21,05%, chủ yếu ở nhóm có cân nặng cực thấp (< 1000 g, chiếm 75%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kết quả nuôi dưỡng trẻ rất non tháng 28 - 32 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương đáng khích lệ: trẻ đạt được dinh dưỡng đầy đủ sớm (~10 ngày), hồi phục cân nặng sau ~2 tuần, tốc độ tăng trưởng gần sát trong bụng mẹ (~15 g/kg/ngày), tỉ lệ biến chứng nuôi ăn (viêm ruột hoại tử, không dung nạp) thấp và tỉ lệ sống rất cao.</p>Đỗ Thị Phương AnhNgô Hồng VânNguyễn Thị Thu Trang
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-23233909510.46755/vjog.2025.3.1895Mức độ hài lòng của nhân viên y tế về việc ứng dụng mô hình pha chế thuốc kháng sinh tập trung cho trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1875
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên y tế về việc ứng dụng mô hình pha chế thuốc kháng sinh tập trung cho trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, được tiến hành vào tháng 4/2025 thông qua phỏng vấn 10 bác sĩ, 7 điều dưỡng, 20 dược sĩ theo bộ câu hỏi sử dụng thang Likert 5 mức độ được góp ý bởi 1 chuyên gia thuộc Trường Đại học Dược Hà Nội và 2 dược sĩ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Bác sĩ ghi nhận mức độ hài lòng chung cao nhất đối với mô hình pha chế tập trung thuốc kháng sinh (4,2 ± 0,4 điểm), tiếp đến là dược sĩ (4,0 ± 0,5 điểm) và điều dưỡng (3,6 ± 0,8 điểm). Trong nhóm dược sĩ, các yếu tố ý nghĩa công việc và hệ thống hướng dẫn - đào tạo được đánh giá cao (trung bình ≥ 4 điểm), trong khi khối lượng công việc, yêu cầu, áp lực, môi trường làm việc và chế độ lương thưởng được đánh giá thấp hơn (trung bình < 4 điểm).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nhân viên y tế ghi nhận vai trò tích cực của phòng pha chế, tuy nhiên điều dưỡng có mức độ hài lòng thấp hơn về tính linh hoạt và khả năng cung ứng ngoài giờ. Việc mở rộng quy mô và tần suất pha chế có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu lâm sàng.</p>Lê Thị Lan AnhLê Bá HảiNguyễn Linh PhươngNguyễn Huy TuấnNguyễn Thành HảiNguyễn Đình An
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-232339610210.46755/vjog.2025.3.1875Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1885
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia Plasma cho sản phụ sau mổ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 135 điều dưỡng/hộ sinh thực hiện quy trình chiếu tia Plasma tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2024. Dữ liệu được thu thập bằng bảng kiểm và phân tích bằng thống kê mô tả</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình chung điều dưỡng/hộ sinh là 36,70 ± 7,18; đa số là nữ giới chiếm 98,5%. Tỉ lệ điều dưỡng là 43,7%; nữ hộ sinh là 56,3%. Phần lớn điều dưỡng/hộ sinh có trình độ học vấn từ đại học trở lên chiếm 63,0% (trong đó 8,2% sau đại học, 54,8% đại học). Đa số điều dưỡng/hộ sinh tuân thủ tốt quy trình chiếu tia Plasma cho sản phụ sau mổ với tỉ lệ 89,6% thực hiện đầy đủ 19 bước, điểm thực hành trung bình 18,74 ± 1,67. Một số bước có tỉ lệ thực hiện chưa cao như: trải nilon (94,1%), quy trình chiếu tia plasma (97,0%), ghi phiếu chăm sóc (97,8%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỉ lệ điều dưỡng/hộ sinh tuân thủ quy trình chiếu tia PlasmaMed cho sản phụ sau mổ tương đối cao. Tăng cường đào tạo thực hành lâm sàng theo quy trình chuẩn, đặc biệt các bước có tỉ lệ thực hiện chưa cao như trải nilon, chiếu tia plasma, và ghi chép hồ sơ. Thực hiện giám sát định kỳ và phản hồi cá nhân, đào tạo để duy trì chất lượng tuân thủ. </p>Ngô Thị Minh HàNguyễn Thị Thanh TâmPhan Thị ThảoLê Thu HuyềnĐỗ Thị Thanh Huyền
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323310310810.46755/vjog.2025.3.1885Kiến thức của phụ nữ sau sinh về tiêm chủng cho trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1891
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả mức độ kiến thức của phụ nữ sau sinh về tiêm chủng cho trẻ sơ sinh.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Mô tả cắt ngang trên 323phụ nữ sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi khảo sát và phân tích bằng thống kê mô tả.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có tuổi trung bình là 30,65 ± 5,23. Tỉ lệ ĐTNC có trình độ học vấn Trung cấp/Cao đẳng/Đại học/trên Đại học(TC/CĐ/ĐH/trên ĐH chiếm cao nhất là 76,5%. Tỉ lệ ĐTNC có nghề nghiệp tự do chiếm cao nhất là 59,5%. Tỉ lệ ĐTNC ở thành thị và nông thôn có số lượng không khác biệt (nông thôn 51,1%; thành thị 48,9%). Tỉ lệ ĐTNC sinh 2 con trở lên chiếm 65,4%. Chỉ có 159 (49,2%) ĐTNC có kiến thức về tiêm chủng đạt. Tỉ lệ lớn ĐTNC có kiến thức về bệnh có thể phòng bằng vắc xin (thấp nhất là 76,2%); 2,8% không có kiến thức về vấn đề này. Đa số ĐTNC có hiểu biết về chống chỉ định và các trường hợp tạm hoãn của tiêm vắc xin; 6,8% không biết về chống chỉ định, 3,1% cho rằng không có chống chỉ định; 4,6% cho rằng không cần hoãn tiêm.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỉ lệ ĐTNC có điểm kiến thức đạt là 49,2%. Tỉ lệ lớn ĐTNC có kiến thức về bệnh có thể phòng bằng vắc xin (thấp nhất là 76,2%). 6,8% ĐTNC không biết về chống chỉ định, 3,1% cho rằng không có chống chỉ định và 4,6% cho rằng không cần hoãn tiêm. Tỉ lệ ĐTNC chưa có kiến thức đúng về triệu chứng sau tiêm chủng cần đưa trẻ đến viện lớn (64,7%-78,0%).</p>Đặng Thị Hồng ThiệnNguyễn Thị Thanh TâmChu Thị NgọcPhạm Thị Hạnh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323310911410.46755/vjog.2025.3.1891Đánh giá tỷ lệ sống của tế bào gốc máu dây rốn sau 5 năm lưu trữ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1901
<p><strong>Giới thiệu:</strong> Hiện nay, bảo quản đông lạnh hay lưu trữ âm sâu đang là phương pháp hiệu quả và phổ biến nhất để duy trì chất lượng tế bào gốc máu dây rốn. Tuy nhiên, tỷ lệ sống của tế bào gốc khi rã đông có thể bị ảnh hưởng sau khoảng thời gian dài lưu trữ.</p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Đánh giá tỷ lệ tế bào sống của khối tế bào gốc máu dây rốn sau 5 năm lưu trữ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> 30 mẫu tế bào gốc máu dây rốn lưu trữ tại Khoa tế bào gốc máu cuống rốn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương được rã đông để tiến hành đánh giá. Số lượng và tỷ lệ sống của tế bào gốc CD34+ và tế bào CD45+ được xác định bằng phương pháp đếm tế bào theo dòng chảy.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tế bào gốc CD34+, tế bào CD45+ của các mẫu máu dây rốn rã đông trung bình có tỷ lệ sống lần lượt 87,53 ± 4,51% và 64,00 ± 10,93%; trung bình số lượng tế bào lần lượt là 57,70 ± 33,44 tế bào/μL và 13199,87 ± 5607,77 tế bào/μL. Hình thức sinh và số lần sinh của mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tế bào gốc CD45+, nhưng không ảnh hưởng đến tế bào CD34+ sau rã đông.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tế bào gốc máu dây rốn được bảo quản đông lạnh hiệu quả trong thời gian dài với 100% mẫu lưu trữ có tỷ lệ sống của tế bào gốc CD34+ trên 80%, mặc dù các chỉ số tế bào có giảm sau rã đông. Một số đặc điểm máu dây rốn liên quan đến số lượng tế bào và các chỉ số tế bào CD45+ sau rã đông nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tế bào gốc CD34+.</p>Nông Thanh TùngNguyễn Thị NamPhí Văn CôngNguyễn Văn BìnhNguyễn Lan HươngNguyễn Quang Minh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323311912410.46755/vjog.2025.3.1901Đặc điểm hình ảnh soi cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HPV type nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1948
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả đặc điểm hình ảnh soi cổ tử cung và giá trị của thang điểm Reid ở phụ nữ nhiễm HPV type nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên hồ sơ 290 phụ nữ nhiễm HPV type nguy cơ cao (type 16, 18 hoặc nhóm 1/12 type khác có tế bào âm đạo bất thường), được soi cổ tử cung và làm mô bệnh học trong giai đoạn 1/1/2023 - 31/12/2023. Hình ảnh soi được phân loại theo IFCPC 2011, chấm điểm Reid (0 - 8). </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tuổi trung bình 40,34 ± 8,04; nhóm 30 - 49 tuổi chiếm 80,4%. Tỉ lệ hình ảnh bất thường 68,97%, trong đó vùng trắng sau bôi acid acetic chiếm 57,6%. Điểm Reid trung bình 3,28 ± 1,84; nhóm ≥ 4 điểm chủ yếu thuộc HPV type 16, 18. Tỉ lệ CIN1-3 là 72,5%, tỉ lệ ung thư xâm nhập là 13,5%. Ở ngưỡng Reid ≥ 4 điểm, độ nhạy 90,7%, đặc hiệu 98,4%, PPV 97,1%, NPV 94,6% trong phát hiện CIN2+. </span></p> <p style="margin: 0cm; margin-bottom: .0001pt; text-align: justify; line-height: 150%;"><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Thang điểm Reid có giá trị cao trong phát hiện tổn thương CIN2+ ở phụ nữ nhiễm HPV type nguy cơ cao. Kết hợp xét nghiệm HPV và soi cổ tử cung có chấm điểm Reid giúp phân tầng nguy cơ, lựa chọn sinh thiết tối ưu, góp phần tăng hiệu quả sàng lọc ung thư cổ tử cung. </span></p>Phan Thị Thu NgaTrần Thị Xuân HươngLê Thị Mỹ LinhNguyễn Thị TâmĐào Thị Hoa
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-242025-12-2423312513010.46755/vjog.2025.3.1948Nhận xét đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng của bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ được phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1947
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ được phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 44 bệnh nhân được chẩn đoán u nang buồng trứng vỡ và phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong giai đoạn 01/2019 - 12/2023. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, phân tích bằng phần mềm SPSS 27.0. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Nhóm tuổi 20 - 29 chiếm tỉ lệ cao nhất (54,5%), 63,6% bệnh nhân chưa sinh con. 100% trường hợp có đau bụng, 25% có buồn nôn/nôn, 20,5% có choáng, 4,5% sốt nhẹ. 68,2% có giảm hemoglobin > 2 g/dL; 95,4% có dịch ổ bụng nhiều. Siêu âm phát hiện nang buồng trứng ở 81,8% bệnh nhân, chủ yếu là nang bờ méo (36,4%) và nang xuất huyết (20,4%). </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">U nang buồng trứng vỡ thường gặp ở phụ nữ trẻ, chưa sinh con, biểu hiện điển hình là đau bụng cấp kèm dấu hiệu mất máu. Siêu âm và xét nghiệm βhCG đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật kịp thời, giúp bảo tồn chức năng sinh sản và hạn chế biến chứng.</span></p>Đào Thị HoaPhạm Thị YếnNguyễn Ngọc TuyếtNguyễn Minh HuệNguyễn Thị Huyền Anh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-242025-12-2423313113610.46755/vjog.2025.3.1947Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân phẫu thuật nội soi buồng tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2021 - 2023
https://vjog.vn/journal/article/view/1910
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân phẫu thuật nội soi buồng tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2021 - 2023</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang lấy số liệu hồi cứu trên 182 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi buồng tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2023.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 38,4 ± 7,0 tuổi, phần lớn là lao động tự do (52,2%). Tỉ lệ bệnh nhân có ≥ 1 con chiếm đa số (79,7%) và hầu hết chưa từng có tiền sử sảy, lưu hoặc bỏ thai (79,1%). Về triệu chứng lâm sàng, phần lớn bệnh nhân có kinh nguyệt không đều (68,7%), 48,9% không có triệu chứng rõ ràng, 41,8% có biểu hiện ra máu âm đạo và chỉ có 4,9% gặp tình trạng vô sinh. Đa số tổn thương trong buồng tử cung là polyp (83,5%) với 90,7% có 1 tổn thương duy nhất và 9,3% có ≥ 2 tổn thương trở lên. Hầu hết các tổn thương có đường kính nhỏ hơn 30 mm (94%), chỉ 6% có kích thước ≥ 30 mm và có đến 95,6% các tổn thương là không xâm lấn.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Các đặc điểm trên siêu âm 2D phản ánh đúng đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của các loại tổn thương buồng tử cung, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của siêu âm 2D trong sàng lọc, định hướng chẩn đoán trước nội soi buồng tử cung. </p>Trần Xuân CảnhTăng Xuân HảiĐỗ Tuấn Đạt
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323313714110.46755/vjog.2025.3.1910Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân thai chửa góc - kẽ tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ năm 2022 đến năm 2024
https://vjog.vn/journal/article/view/1912
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân thai chửa góc - kẽ tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ năm 2022 đến năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa trên 41 bệnh nhân được chẩn đoán thai chửa góc - kẽ tử cung chưa vỡ và được điều trị phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An trong 3 năm từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Phần lớn bệnh nhân trong độ tuổi 20 - 41 (82,9%), đa số đã từng mang thai (80,5%) và 36,3% có tiền sử thai thai ngoài tử cung. Triệu chứng thường gặp là chậm kinh (100%) và đau bụng (73,2%), tất cả đều có Quicktick dương tính. Hơn 60% có khối cạnh tử cung đau và tử cung to. Tuổi thai trung bình khi phát hiện là 9,6 ± 2,67 tuần, 43,9% có tim thai. Kích thước khối phổ biến nhất 2,5 - < 3,5 cm (51,2%), β-hCG trung bình 35.333,44 ± 32.948,89 mUI/ml và Hb trung bình 123,41 ± 8,42 g/l.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phần lớn bệnh nhân thai chửa góc - kẽ tử cung thuộc nhóm tuổi sinh sản, đã từng mang thai và có đặc điểm lâm sàng điển hình là chậm kinh, đau bụng, Quicktick dương tính. Siêu âm và xét nghiệm β-hCG giúp chẩn đoán sớm, góp phần định hướng xử trí phù hợp và hạn chế biến chứng.</p>Nguyễn Xuân ChungĐỗ Tuấn ĐạtTăng Thanh Hải
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323314214710.46755/vjog.2025.3.1912Kết quả nuôi cấy và kháng nấm đồ ở những phụ nữ viêm âm đạo do nấm đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1946
<p><strong>Mục tiêu</strong><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Mô tả đặc điểm và nhận xét kết quả nuôi cấy, kháng nấm đồ ở bệnh nhân viêm âm đạo do nấm đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 121 bệnh nhân ≥ 18 tuổi, được xét nghiệm nuôi cấy dương tính với nấm Candida (7/2024 - 7/2025). </span></p> <p><strong>Kết quả</strong><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Nhóm tuổi ≥ 30 chiếm 70,3%, trong đó > 39 tuổi 32,8%. Chủng phân lập chủ yếu là C.albicans (93,4%), tiếp đến là C. lusitaniea (3,3%), C. glabrata (2,5%) và C. tropicalis (0,8%). Kháng nấm đồ cho thấy C. albicans nhạy cảm cao với fluconazole (86,7%) và voriconazole (92,4%), nhưng kháng amphotericin B ở mức 11,2%. </span></p> <p><strong>Kết luận</strong><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Viêm âm đạo do nấm thường gặp ở phụ nữ ≥ 30 tuổi, có tiền sử sản phụ khoa, với căn nguyên chủ yếu là C. albicans. Cần lưu ý theo dõi tình trạng kháng thuốc để lựa chọn phác đồ hợp lý, với C. albicans có độ nhạy cảm cao với fluconazole và voriconazole do đó có thể sử dụng kháng sinh nhóm azole để điều trị. Bên cạnh đó cần tăng cường tư vấn thay đổi thói quen vệ sinh và thói quen khám phụ khoa định kỳ nhằm giảm nguy cơ tái phát. </span></p>Đặng Thị Minh NguyệtNguyễn Hà Bảo VânNguyễn Thị Hồng NhungLê Kiều LinhNguyễn Thị Minh ThuHoàng Phương LyĐỗ Phương Anh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-242025-12-2423314815210.46755/vjog.2025.3.1946Thực trạng nhiễm Human Papilloma Virus ở phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Quốc tế Phương Châu năm 2025
https://vjog.vn/journal/article/view/1893
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định tỉ lệ nhiễm Human Papillomavirus (HPV) và đặc điểm phân bố các týp ở phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Quốc tế Phương Châu năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 3708 phụ nữ từ 18 - 65 tuổi đã quan hệ tình dục, đến khám phụ khoa từ tháng 01/2025 đến 08/2025 có thực hiện xét nghiệm định týp HPV bằng kỹ thuật real-time PCR.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỉ lệ nhiễm HPV chung là 18,2% (674/3708). Trong số này, nhiễm đơn týp chiếm 73,7%, đồng nhiễm nhiều týp chiếm 26,3%. Trong đó các týp/nhóm týp phổ biến nhất là týp 52 (16,0%), nhóm týp 42-43-44 (15,8%) và týp 16 (8,3%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỉ lệ nhiễm HPV trong quần thể nghiên cứu ở mức đáng kể (18,2%), với sự lưu hành vượt trội của týp 52 là đặc điểm dịch tễ học quan trọng của khu vực. Cần tăng cường tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm HPV, chú trọng các týp nguy cơ cao như 52.</p>Lê Trung TínTrần Thị Trúc LinhNguyễn Minh HiệpVõ Thành TríLê Thị Cẩm GiangPhan Mộng ThùyNguyễn Minh HiếuNguyễn Thị Bảo Hà
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323315315710.46755/vjog.2025.3.1893Đặc điểm lo âu ở bệnh nhân sau phẫu thuật phụ khoa: một nghiên cứu cắt ngang
https://vjog.vn/journal/article/view/1900
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu này nhằm đánh giá tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu ở phụ nữ phẫu thuật phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 394 bệnh nhân tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 5/2024 đến tháng 11/2024. Lo âu được đo lường bằng thang điểm GAD-7; mối liên quan giữa mức độ lo âu và các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu cho thấy có 131 người (33,25%) có triệu chứng lo âu, tỉ lệ lo âu trung bình và nặng lần lượt là 4,57% và 3,05%. Những người chỉ hiểu khoảng 50 - 70% tư vấn của bác sĩ trước phẫu thuật có nguy cơ lo âu cao hơn 4 lần so với nhóm hiểu rõ (p < 0,004). Các bệnh nhân lạc quan về kết quả phẫu thuật và tin tưởng vào phác đồ điều trị hậu phẫu có tỉ lệ lo âu thấp (~32%). </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 33,25% người bệnh có biểu hiện rối loạn lo âu, trong đó phần lớn ở mức độ nhẹ, nhưng cũng xuất hiện các trường hợp lo âu trung bình và nặng. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng lo âu bao gồm: vấn đề hồi phục chức năng, giáo dục sức khỏe, niềm tin vào điều trị thuốc hậu phẫu và đặc biệt là thiếu niềm tin vào hiệu quả phẫu thuật. </span></p>Nguyễn Thị Bích VânNguyễn Ngọc ThuNguyễn Ngọc Minh HảiLê Chí BằngNguyễn Thị Thủy Chung
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323315816310.46755/vjog.2025.3.1900Nhận xét thực trạng thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1897
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Xác định tỉ lệ tuân thủ các tiêu chuẩn khi thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch và nhận xét thực trạng thực hiện quy trình của nhân viên y tế tại Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức (PTGMHS), Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTW). </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ 76 nhân viên y tế (NVYT) khoa PTGMHS tham gia thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch trong tháng 8/2025. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Đa số NVYT đã thực hiện tương đối tốt các nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật, tuy nhiên, kiểm tra thông tin người bệnh và tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật vẫn còn tỉ lệ thực hiện chưa đầy đủ (lần lượt 36,9% và 36,9%). NVYT có mức giao tiếp chưa hiệu quả trong nội dung hỗ trợ đồng nghiệp và xử lý sự cố, với 56,6% chưa đạt mức phối hợp chủ động. Phần lớn nhân viên y tế thực hiện tốt các yêu cầu về thời gian và tiến độ trong quy trình phẫu thuật. Mức độ tham gia của NVYT vào hoạt động cải tiến quy trình và phân tích sự cố sau phẫu thuật còn chưa đồng đều. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">NVYT khoa PTGMHS đã thực hiện tương đối tốt các nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật, bàn giao và kết thúc công việc. Tuy nhiên, vẫn còn một tỉ lệ nhất định có mức giao tiếp trung bình hoặc chưa hiệu quả, đặc biệt trong nội dung hỗ trợ đồng nghiệp và xử lý sự cố. </span></p>Lê Văn HùngPhạm Thị Ngọc ThưNguyễn Quang Minh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323318318710.46755/vjog.2025.3.1897Kiến thức và thực hành điều dưỡng về thay băng vết mổ của điều dưỡng/hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
https://vjog.vn/journal/article/view/1899
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nhận xét kiến thức phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ và việc tuân thủ quy trình thay băng vết mổ của Điều dưỡng/Hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn kiến thức của 58 ĐD/HS và quan sát 138 lượt thực hành thay băng vết mổ bằng bảng kiểm trong thời gian từ 8/2024 - 8/2025. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Phần khảo sát kiến thức 77,5% điều dưỡng/hộ sinh trả lời đúng 60% số câu hỏi trở lên. Phần thực hành kỹ thuật các bước đạt tỉ lệ tuân thủ cao gồm chuẩn bị điều dưỡng đạt 98,55%, thấm khô vết mổ 97,1%, băng kín vết mổ 97,82%, thu dọn, xử lý dụng cụ sau khi kết thúc kỹ thuật 99,27%, tuân thủ thời điểm vệ sinh tay 93,48%. Tỉ lệ tuân thủ đủ các bước trong vệ sinh tay đạt mức thấp 18,12% , dùng găng vô khuẩn khi thay băng đạt 73,19%. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Bên cạnh những điểm mạnh đáng ghi nhận về kiến thức vẫn còn tồn tại lỗ hổng trong thực hành của Điều dưỡng/Hộ sinh về thay băng vết mổ. Giải pháp khuyến nghị là tập trung đào tạo chuyên sâu về kiến thức cùng với giám sát và phản hồi chặt chẽ trong thực hành của Điều dưỡng/Hộ sinh. </span></p>Lê Thị Thái VânNguyễn Thị MườiNguyễn Thị Thùy Linh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323318819410.46755/vjog.2025.3.1899Vai trò của các mạch nối thông trong thai chậm tăng trưởng chọn lọc: Nhân một trường hợp khởi phát sớm kèm tăng vận tốc đỉnh tâm thu động mạch não giữa
https://vjog.vn/journal/article/view/1915
<p><span style="font-weight: 400;">Thai chậm tăng trưởng chọn lọc trong tử cung (sFGR) gặp ở 10 - 26% các trường hợp song thai một bánh rau, chủ yếu do sự phân bố bánh rau không cân xứng giữa hai thai. Do sự tồn tại của các mạch nối thông giữa hai thai, diễn biến trên lâm sàng của sFGR có thể rất khác so với đơn thai hoặc song thai hai bánh rau, đặc biệt là tăng nguy cơ thai chết lưu và các biến chứng thần kinh. Tuy nhiên hiện nay chưa có sự thống nhất trong thực hành lâm sàng và thái độ xử trí tối ưu đối với sFGR, đặc biệt là type II và type III. Chúng tôi báo cáo một trường hợp sFGR khởi phát sớm, có sự chuyển đổi giữa type I và type II kèm theo tăng vận tốc đỉnh tâm thu động mạch não giữa thoáng qua ở thai nhỏ hơn, kết thúc thai kỳ tại thời điểm 32 tuần 1 ngày với hai trẻ sinh sống (1000g và 1600g), xuất viện trong tình trạng ổn định. Nhuộm màu mạch máu bề mặt bánh rau sau sinh cho thấy có 1 nối thông động mạch - động mạch kích thước 2 mm và 3 nối thông động mạch - tĩnh mạch kích thước 1 mm, giúp lý giải những biến đổi lâm sàng trong thai kỳ. Trường hợp này cho thấy việc nắm vững đặc điểm hệ thống mạch máu nối thông giữa hai thai có ý nghĩa quan trọng trong phân tích diễn biến lâm sàng và lựa chọn chiến lược xử trí cá thể hóa tối ưu cho sFGR. </span></p>Phạm Minh GiangĐặng Công ViệtTrần Lê Ngọc CườngNguyễn Thị NinhLưu Thị Hồng MaiPhan Hoàng GiangHứa Thanh Tú
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-222025-12-22233687210.46755/vjog.2025.3.1915Thai ngoài tử cung sau triệt sản: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp
https://vjog.vn/journal/article/view/1887
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Bài báo trình bày một trường hợp thai ngoài tử cung sau triệt sản và thảo luận về cơ chế, yếu tố nguy cơ cũng như ý nghĩa lâm sàng của hiện tượng này.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu ca bệnh.</p> <p><strong>Báo cáo ca bệnh:</strong> Bệnh nhân 39 tuổi, có tiền sử thai ngoài tử cung và triệt sản năm 2019, nhập viện vì chậm kinh, đau bụng. Chẩn đoán xác định là thai ngoài tử cung phải dựa trên tiến triển nồng độ βhCG tăng không tương xứng với thai trong tử cung và hình ảnh khối cạnh buồng trứng phải trên siêu âm. Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt vòi tử cung phải. Bệnh nhân ổn định và xuất viện sau 8 ngày theo dõi điều trị.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cần cân nhắc đến chẩn đoán thai ngoài tử cung ở mọi bệnh nhân có đau bụng, rối loạn kinh nguyệt, kể cả khi họ có tiền sử triệt sản.</p>Đồng Thị Minh PhươngĐặng Thị Minh NguyệtĐinh Quốc HưngĐàm Thị Quỳnh Liên
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-23233737510.46755/vjog.2025.3.1887Rau bong non: báo cáo loạt ca bệnh
https://vjog.vn/journal/article/view/1945
<p><span style="font-weight: 400;">Rau bong non là một trong năm tai biến sản khoa, đe dọa đến tính mạng cho cả bà mẹ và thai nhi. Trong trường hợp rau bong non cấp tính sau sang chấn, các triệu chứng thường rầm rộ và dễ chẩn đoán, tuy nhiên, trong một vài trường hợp, rau bong non lại rất khó chẩn đoán, tiên lượng và điều trị. Chúng tôi trình bày 2 trường hợp rau bong non không có triệu chứng điển hình, cả 2 trường hợp đều được mổ lấy thai cấp cứu và đều thành công giữ được tử cung. Trường hợp đầu tiên là một thai phụ 30 tuổi, đơn thai 36 tuần bị rau bong non tiềm ẩn không có triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm cho thấy tình trạng thiếu máu nhẹ với hemoglobin 108 g/l và chức năng đông cầm máu bình thường, tuy nhiên siêu âm ghi nhận hình ảnh chảy máu cấp tính trong buồng ối, mổ lấy thai cấp cứu được 01 trẻ trai nặng 2800g. Trường hợp thứ 2 là thai phụ 21 tuổi, có thai lần đầu, đơn thai 30 tuần có dấu hiệu nguy cơ của rau bong non, phát hiện rau bong non cấp tính trong quá trình theo dõi điều trị tiền sản giật có dấu hiệu nặng, thai phụ được mổ lấy thai cấp cứu tuy nhiên trẻ sơ sinh đã tử vong sau 24 giờ chăm sóc tại đơn vị chăm sóc tích cực do các biến chứng của đẻ non, chậm phát triển trong tử cung và rau bong non. Báo cáo này nhằm nâng cao nhận thức về bệnh lý nguy hiểm rau bong non, đặc biệt là rau bong non tiềm ẩn. </span></p>Nguyễn Thị HồngHoàng Thị ChinhCao Thị Quỳnh Anh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-242025-12-24233768110.46755/vjog.2025.3.1945Đột biến gen HADHB - Báo cáo ca lâm sàng và tổng quan y văn
https://vjog.vn/journal/article/view/1892
<p>Protein ti thể ba chức năng (mitochondrial trifunctional protein) là một phức hợp enzym nằm trong màng trong ti thể, có chức năng phân giải axit béo chuỗi dài thông qua quá trình β-oxy hóa. Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo mối liên hệ giữa các trường hợp gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kì, hội chứng HELLP, tăng men gan liên quan đến rối loạn chuyển hóa acid béo ở thai nhi do đột biến gen HADHB. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một trường hợp đột biến gen HADHB ở thai nhi gây ra sinh non, tăng men gan, hội chứng HELLP ở mẹ. Men gan của mẹ tăng dần theo tuổi thai. Đến 32 tuần 04 ngày được chỉ định mổ lấy thai vì chuyển dạ, mổ đẻ cũ, rau bám thấp, tăng men gan, ngôi ngược. Sau sinh, sản phụ ổn định, men gan giảm dần. Trẻ sơ sinh xuất hiện suy tim nặng và tử vong do ngừng tuần hoàn 32 giờ tuổi. Kĩ thuật sàng lọc rối loạn chuyển hóa sơ sinh bằng khối phổ song song cho thấy rối loạn chuyển hóa acid béo chuỗi dài. Phân tích gen chứng minh đột biến đồng hợp tử ở gen HADHB, chịu trách nhiệm gây thiếu hụt protein ti thể ba chức năng. Cha mẹ của trẻ mang đột biến dị hợp tử cùng một vị trí trên gen HADHB.</p>Nguyễn Viết NamNguyễn Ngọc TúLưu Thị Hồng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323311511810.46755/vjog.2025.3.1892Polyp xơ biểu mô khổng lồ ở âm hộ: Một báo cáo ca bệnh
https://vjog.vn/journal/article/view/1898
<p><span style="font-weight: 400;">Polyp xơ biểu mô hay polyp đệm xơ biểu mô là một khối u trung mô lành tính đặc trưng bởi sự tăng sinh dày polyp của mô đệm phía dưới, thường xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Chúng phổ biến với kích thước nhỏ và lành tính về mặt mô học. Các tổn thương lớn hơn rất hiếm và có khả năng phát sinh từ sự tăng sinh của các tế bào trung mô bên trong lớp đệm dưới biểu mô nhạy cảm với hormone của đường sinh dục dưới. Chúng tôi trình bày một trường hợp bệnh nhân nữ 22 tuổi có một tổn thương dạng polyp khổng lồ ở âm hộ, khu trú ở môi lớn bên trái. Khối u có kích thước 25x35x35cm. Đã tiến hành phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn tổn thương. Kết quả xét nghiệm mô bệnh học cho thấy Polyp đệm xơ biểu mô lành tính (Fibroepithelial polyp). Polyp mô sợi biểu mô vùng âm hộ là những tổn thương lành tính có nhiều hình thái khác nhau và có thể bị chẩn đoán nhầm là ác tính. Cắt bỏ hoàn toàn là lựa chọn điều trị tốt nhất và xét nghiệm mô bệnh học được thực hiện để loại trừ khối u ác tính. </span></p>Đoàn Thị Phương LamNguyễn Văn ThắngĐào Thị HoaNguyễn Thanh Hải
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323316416610.46755/vjog.2025.3.1898U Carcinoid thể chế nhầy nguyên phát ở buồng trứng: báo cáo một trường hợp và hồi cứu y văn
https://vjog.vn/journal/article/view/1883
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">U carcinoid nguyên phát ở buồng trứng là một bệnh hiếm gặp ở buồng trứng (< 0,1%). Trong đó, thể chế nhầy của u carcinoid ở buồng trứng là thể hiếm nhất, với tần suất chỉ chiếm dưới 2% các khối u carcinoid nguyên phát tại buồng trứng. U thường là lành tính, nhưng có thể gây ra các triệu chứng carcinoid và gây nhầm lẫn với những loại ung thư biểu mô chế nhầy di căn đến buồng trứng. </span></p> <p><strong>Ca bệnh: </strong><span style="font-weight: 400;">Bệnh nhân nữ, 52 tuổi, PARA 2012, vào viện vì lý do đau bụng hố chậu phải, khám phụ khoa phát hiện khối vùng hố chậu phải. Siêu âm: có một khối đặc buồng trứng phải, đường kính 10 cm. Chụp cộng hưởng từ (MRI) khung chậu - ổ bụng: Có khối kích thước 10 x 9 x 9 cm ở buồng trứng phải, tăng tín hiệu trên ảnh T2W, có phần hạn chế khuếch tán trên Diffusion; sau tiêm ngấm thuốc mạnh và không đồng nhất; các cơ quan khác không phát hiện bất thường. Nội soi dạ dày-đại tràng: Không có tổn thương. Bệnh nhân được cắt phần phụ phải và xét nghiệm giải phẫu bệnh. Chẩn đoán giải phẫu bệnh: U carcinoidthể chế nhầy nguyên phát ở buồng trứng. Hóa mô miễn dịch: tế bào u dương tính mạnh và lan tỏa với chromogranin, synaptophysin, CDX2, CK20; âm tính với CK7, PAX8, chỉ số Ki-67 thấp. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">U carcinoid thể chế nhầy nguyên phát ở buồng trứng là khối u hiếm gặp, dễ chẩn đoán nhầm với ung thư biểu mô chế nhầy di căn. Mặc dù đa số lành tính, u vẫn có khả năng tái phát hoặc tiến triển ác tính, do đó bệnh nhân cần được theo dõi lâu dài. </span></p>Đào Thị Thúy HằngNguyễn Khánh DươngLê Quang VinhPhạm Thị Thanh YênĐào Duy QuânNguyễn Đình QuyếtTrần Thị Hải YếnNguyễn Thị Thu HoàiTrần Tuấn VũDương Công Tuyền
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323316717210.46755/vjog.2025.3.1883U buồng trứng dạng lạc nội mạc tử cung thoái triển khi mang thai: Báo cáo ca bệnh
https://vjog.vn/journal/article/view/1888
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">U buồng trứng dạng lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là tổn thương hay gặp nhất của LNMTC, ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và sinh sản của phụ nữ. Chọn giải pháp điều trị nội khoa hay ngoại khoa cần cá thể hóa với từng bệnh nhân và thương tổn. Khi mang thai, khối u này thường thoái triển và giảm các triệu chứng lâm sàng khó chịu. </span></p> <p><strong>Ca lâm sàng: </strong><span style="font-weight: 400;">Sản phụ 26 tuổi đến khám vì mong con, tiền sử phát hiện nang LNMTC tại buồng trứng với triệu chứng thống kinh cách vài năm, được bệnh viện tư nhân chỉ định phẫu thuật nội soi bóc nang và làm thụ tinh trong ống nghiệm. Người bệnh đến khám với chúng tôi được xác nhận chẩn đoán u buồng trứng dạng LNMTC hai bên 5 cm, được hướng dẫn mang thai tự nhiên và theo dõi. Sau 1 năm, bệnh nhân mang thai tự nhiên và đẻ thường thai 3200 g. Triệu chứng lâm sàng hoàn toàn thuyên giảm, và kích thước khối nang buồng trứng hai bên giảm rõ rệt. Chất lượng cuộc sống và tinh thần của bệnh nhân được cải thiện. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phụ nữ với nang LNMTC buồng trứng có thể mang thai, điều này giúp cải thiện triệu chứng đau và kích thước khối u. </span></p>Đặng Thị Hồng ThiệnNgô Vương Minh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323317317510.46755/vjog.2025.3.1888Thai ngoài tử cung tại hai vòi tử cung: báo cáo một ca hiếm gặp và tổng quan y văn
https://vjog.vn/journal/article/view/1890
<p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Báo cáo một trường hợp thai ngoài tử cung hai bên (Bilateral ectopic pregnancy - BTP) hiếm gặp ở bệnh nhân tiến hành thụ tinh ống nghiệm (IVF). </span></p> <p><strong>Phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả ca bệnh hiếm gặp. </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Bệnh nhân vô sinh do yếu tố nam giới, chuyển phôi trữ lạnh. Ngày thứ 20 sau chuyển phôi bệnh nhân vào viện vì đau bụng và ra máu âm đạo, β-hCG huyết thanh là 5.897 mIU/ml, siêu âm đầu dò âm đạo không phát hiện túi thai trong buồng tử cung, theo dõi 02 khối bát thường cạnh hai bên buồng trứng. Phẫu thuật nội soi thấy khối chửa ở 2 vòi tử cung, tiến hành cắt cả 2 vòi tử cung. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Thai ngoài tử cung hai bên là biến chứng sản khoa cực kỳ hiếm gặp ở bệnh nhân có đau bụng và ra máu âm đạo bất thường sau IVF. </span></p>Nguyễn Hữu CôngĐặng Tuấn AnhLưu Thị Hồng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323317617910.46755/vjog.2025.3.1890Ung thư vú hai bên đồng thời: báo cáo ca bệnh
https://vjog.vn/journal/article/view/1886
<p><strong>Bối cảnh: </strong><span style="font-weight: 400;">Ung thư vú hai bên đồng thời (SBBC) hiếm gặp; thường định nghĩa khi hai khối u ung thư ở hai vú được chẩn đoán trong thời gian ≤ 6 tháng. Tỉ lệ ung thư vú hai bên (BBC) ước khoảng 2 - 11% tùy quần thể và mức độ sàng lọc. </span></p> <p><strong>Ca bệnh: </strong><span style="font-weight: 400;">Nữ 68 tuổi, đái tháo đường typ 2 ổn định, vào viện vì tiết dịch hồng vú trái. Hình ảnh gợi ý tổn thương nghi ngờ hai bên (BI-RADS 4B - 4C). Sinh thiết lõi xác định ung thư biểu mô thể ống tại chỗ (DCIS) độ 2 hai bên. Điều trị: cắt vú toàn bộ hai bên + sinh thiết hạch cửa bằng ICG. Giải phẫu bệnh sau mổ: DCIS hai bên, ER 80%, PR 70%, HER2 âm tính, Ki-67 10% (luminal A); hạch cửa âm tính (pTis pN0). Điều trị bổ trợ: kháng aromatase 1 mg/ngày; hiện ổn định. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Ung thư vú hai bên đồng thời (SBBC) cần đánh giá và xử trí độc lập cho từng bên. Với DCIS lan rộng/đa ổ/khó đạt bờ an toàn, cắt vú toàn bộ là phù hợp; sinh thiết hạch cửa (SLNB) cùng thì bằng indocyanine green (ICG) giúp tăng khả năng hiện hình hạch và đánh giá hạch nách chính xác, tránh được các biến chứng của nạo hạch hệ thống.</span></p>Nguyễn Văn ThắngĐào Huy QuangNguyễn Ngọc PhươngPhạm Duy Duẩn
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Phụ sản
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2025-12-232025-12-2323318018210.46755/vjog.2025.3.1886