https://vjog.vn/journal/issue/feed Tạp chí Phụ sản 2021-05-24T10:08:30+00:00 Ban biên tập tapchiphusan.vn@gmail.com Open Journal Systems <p>Tạp chí Phụ Sản (ISSN 1859–3844, DOI: 10.46755/vjog)&nbsp; sẽ công bố các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết tổng quan cũng như các báo cáo trường hợp lâm sàng đặc biệt, liên quan đến các lĩnh vực sản phụ khoa, sơ sinh và nội tiết sinh sản, vô sinh được xuất bản định kỳ mỗi quý (4 số mỗi năm) và một số số đặc biệt.&nbsp;&nbsp;Bài viết gởi về tòa soạn cần tuân thủ quy định về hình thức của tạp chí và theo quy trình <a href="https://vjog.vn/journal/quy-trinh">tại đây</a>.</p> <p>Mỗi bài viết sẽ được nhận xét bởi 2 phản biện độc lập do Ban biên tập giới thiệu, là những chuyên gia về các lĩnh vực liên quan, để nhận xét tính mới, ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của mỗi bài viết và chấp nhận đăng. Tác giả bài viết sẽ chịu trách nhiệm về nội dung bài của mình và có trách nhiệm phản hồi với mọi ý kiến của độc giả sau khi công bố.</p> <p>Mỗi bài báo khoa học được chấp nhận đăng trên tạp chí phụ sản được Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đánh giá 0,5 điểm/công trình về mặt đóng góp khoa học.&nbsp;</p> https://vjog.vn/journal/article/view/1151 Bảo tồn chức năng sinh sản ở bệnh nhân ung thư vú 2021-05-24T10:08:30+00:00 Lê Việt Hùng Leviethung67@yahoo.com Lê Viết Nguyên Sa drlevietnguyensa@gmail.com <p><span style="font-weight: 400;">Ung thư vú là bệnh lý u ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới. Nhờ vào sự tiến bộ của điều trị ung thư, ung thư vú ngày nay có tỉ lệ sống sót cao so với các loại ung thư khác. Ngày nay, do xu hướng trì hoãn việc có con ở các phụ nữ trẻ, ngày càng nhiều phụ nữ ung thư vú trong độ tuổi sinh sản có nguyện vọng có con sau khi đẩy lùi bệnh ung thư. Tuy nhiên, các phụ nữ trẻ vượt qua được bệnh tật lại phải đối mặt với sự suy giảm khả năng sinh sản do hậu quả của các phương pháp điều trị ung thư gây độc sinh dục. Do đó, cần cân nhắc bảo tồn sinh sản ở các phụ nữ trẻ ung thư vú trước khi điều trị hóa trị liệu cho bệnh nhân. Để làm được điều này, đòi hỏi có một chiến lược chăm sóc toàn diện, đa chuyên ngành cho bệnh nhân, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bác sĩ ung bướu và bác sĩ hỗ trợ sinh sản để tối ưu hóa việc bảo tồn sinh sản cho các bệnh nhân này. Trong bài tổng quan này, chúng tôi cũng báo cáo hai trường hợp: một trường hợp trữ đông phôi và một trường hợp trữ đông trứng để bảo tồn sinh sản cho 2 bệnh nhân nữ ung thư vú có nguyện vọng sinh con trong tương lai tại bệnh viện Trung Ương Huế.</span></p> 2021-05-11T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1123 Xác định giá trị của bể lớn hố sau trên siêu âm thai từ 11 tuần- 13 tuần 06 ngày 2021-05-24T10:08:24+00:00 Nguyễn Hải Long nguyenhl.pshp@gmail.com Trần Danh Cường no@email.com Nguyễn Thị Thu Hương no@email.com <p><span style="font-weight: 400;">Bể lớn hố sau là cấu trúc nằm trong hố sau ở não thai nhi xuất hiện từ rất sớm nhưng có thể khảo sát trên siêu âm từ 11-13 tuần 06 ngày, mất bể lớn hố sau trên siêu âm có thể là dấu hiệu gợi ý của bệnh cảnh thoát vị não- màng não.</span><strong>&nbsp;</strong></p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong><span style="font-weight: 400;"> Xác định giá trị của bể lớn hố sau trên siêu âm từ 11- 13 tuần 06 ngày. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> <span style="font-weight: 400;">cắt ngang mô tả trên 380 thai phụ mang đơn thai có tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 06 ngày. Loại trừ những trường hợp bất thường sớm hình thái thai nhi. Đo các chỉ số chiều dài đầu mông (CRL), đường kính lưỡng đỉnh (BPD), chu vi đầu (HC), Bể lớn hố sau (CM). Mỗi chỉ số được đo hai lần lấy giá trị trung bình. Xây dựng phương trình tương quan tuyến tính của CM với CRL, BPD, HC. Tính các giá trị 5</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;">, 95</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> của CM theo CRL.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả:</strong> <span style="font-weight: 400;">Giá trị trung bình của CM là 2,64 ± 0,673. Kích thước của bể lớn hố sau không liên quan tuyến tính với chiều dài đầu mông, đường kính lưỡng đỉnh và chu vi đầu thai nhi. Trong khoảng CRL từ 45-54mm giá trị 5</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> và 95</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> percentil của CM là 2,0mm và 3,0mm.&nbsp; CRL từ 55-64mm giá trị 5</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> và 95</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> percentil của CM là 2,0mm và 4,0mm. CRL từ 65-74mm giá trị 5</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> và 95</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> percentil của CM là 2,0mm và 4,0mm. CRL từ 75-84mm giá trị 5</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> và 95</span><span style="font-weight: 400;">th</span><span style="font-weight: 400;"> percentil của CM là 2,0mm và 6,0mm.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận:</strong> <span style="font-weight: 400;">Đánh giá cấu trúc hố sau trên đường cắt đứng dọc giữa thai nhi ở tuổi thai 11-13 tuần 06 ngày và đo kích thước bể lớn hố sau để chẩn đoán sớm các bất thường hệ thần kinh trung ương.</span></p> 2021-05-11T03:42:10+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1152 Kết quả sơ sinh sau phẫu thuật hội chứng truyền máu song thai bằng kỹ thuật laser quang đông tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội 2021-05-24T10:08:21+00:00 Phan Thị Huyền Thương phanhuyenthuong@gmail.com Nguyễn Duy Ánh no@email.com Nguyễn Thị Sim no@email.com Nguyễn Thị Thu Hà no@email.com Hồ Sỹ Hùng no@email.com Vương Thị Bích Thuỷ no@email.com Ngô Thị Hương no@gmail.com Trần Đức Lam no@email.com Nguyễn Văn Cường no@email.com Dương Hồng Chương no@email.com <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá kết quả sơ sinh và biến chứng thần kinh ngắn hạn sau phẫu thuật laser quang đôngđiều trị hội chứng truyền máu song thaitại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội</p> <p><strong>Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc, dữ liệu thu thập trong vòng 12 tháng từ tháng 10/2019 - tháng 9/2020 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 23 thai phụ song thai được chẩn đoán hội chứng truyền máu(Twin–Twin Transfusion Syndrome- TTTS)giai đoạn II – IV theo Quintero được thực hiện phẫu thuật nội soi buồng tử cung sử dụng Laser quang đông trong đó 12 trường hợp đông các cầu nối mạch theo phương pháp Solomon giữ 2 thai, 11 trường hợp giảm thiểu chọn lọc giữ 1 thai.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: : Tỷ lệ sống ít nhất một thai 87%, tỷ lệ sống sơ sinh chung là 58,9%. Không có biến chứng thần kinh ngắn hạn nào được ghi nhận khi theo dõi sơ sinh đến 6 tháng tuổi sau sinh. Tuổi thai trung bình khi sinh là 33,05 ± 4,04 tuần, thời gian trung bình giữ thai thêm sau phẫu thuật là 12,5±4,97tuần. 70% trường hợp sinh trên 32 tuần và cân nặng sơ sinh trên 1500gr, 3 trường hợp đẻ cực non dưới 28 tuần cân nặng sơ sinh dưới 1000gr.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Phương pháp đông mạch máu bằng Laser để điều trị hội chứng truyền máu song thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đạt hiệu quả và tỉ lệ thai sinh sốngcao, chưa ghi nhận trường hợp nào có biến chứng thần kinh khi theo dõi sơ sinh đến 6 tháng sau sinh. Phẫu thuật nội soi laser quang đông có thể được coi là một lựa chọn điều trị hiệu quả cho TTTS giai đoạn II – IV trước 26 tuần tuổi thai.</p> <p>&nbsp;</p> 2021-05-11T03:43:52+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1139 Đánh giá hiệu quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai 2021-05-24T10:08:19+00:00 Trương Thị Ánh Tuyết dranhtuyet123@gmail.com Vũ Thị Nhung no@email.com <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Tỉ lệ mổ lấy thai ngày càng tăng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đau và liệt ruột cơ năng thường gặp sau mổ lấy thai. Trong liệu pháp không dùng thuốc để giảm đau và phục hồi nhu động ruột sau mổ thì vận động sớm ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp vận động này trên sản phụ sau mổ. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Hùng </span><span style="font-weight: 400;">Vương.</span><span style="font-weight: 400;">&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng, thực hiện tại khoa Hậu sản, Bệnh Viện Hùng Vương từ tháng 10/2018 đến tháng 03/2019.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả:</strong><span style="font-weight: 400;"> Tỷ lệ sản phụ có điểm đau VAS (thang điểm cường độ đau dạng nhìn đồng dạng - Visual Analog Scale) ≤ 3 hậu phẫu ngày 1 ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 63,2%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tự vận động (23,7%), OR = 5,524 (KTC 95%: 2,730 - 11,178), p &lt; 0,001. Tỉ lệ phục hồi nhu động ruột sớm (trung tiện sớm &lt; 36 giờ) sau mổ lấy thai ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 76,3%, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm tự vận động (43,4%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p &lt; 0,05.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phương </span><span style="font-weight: 400;">pháp tập thể dục </span><span style="font-weight: 400;">sớm mang lại </span><span style="font-weight: 400;">hiệu quả giảm đau và </span><span style="font-weight: 400;">phục hồi nhu động ruột sớm cho các sản phụ sau mổ lấy thai. </span></p> 2021-05-11T03:45:03+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1149 Polyp nội mạc tử cung phát hiện trong quá trình kích thích buồng trứng và kết cục chu kỳ chuyển phôi trữ sau cắt polyp 2021-05-24T10:08:15+00:00 Lê Viết Nguyên Sa drlevietnguyensa@gmail.com Hoàng Ngọc Sơn no@email.com Lê Việt Hùng no@email.com <p><strong>Giới thiệu: </strong><span style="font-weight: 400;">Polyp nội mạc tử cung là bất thường buồng tử cung thường gặp nhất, đặc biệt ở các phụ nữ vô sinh. Việc phát hiện các polyp nội mạc tử cung trong quá trình kích thích buồng trứng- Thụ tinh trong ống nghiệm (KTBT–TTTON) là khá thường gặp trên lâm sàng. Chuyển phôi tươi hay đông lạnh phôi ở các chu kỳ này vẫn còn nhiều bàn cãi.</span></p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong><span style="font-weight: 400;"> đánh giá kết cục chu kỳ chuyển phôi trữ sau phẫu thuật nội soi cắt polyp và so sánh với các chu kỳ chuyển phôi trữ (CPT) sau trữ phôi toàn bộ (TPTB) do các nguyên nhân khác.</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu hồi cứu trên</span> <span style="font-weight: 400;">các bệnh nhân hoàn thành chu kỳ CPT đầu tiên sau khi trữ phôi toàn bộ do bất kỳ nguyên nhân nào khi thực hiện TTTON bằng phương pháp ICSI tại khoa Hỗ trợ sinh sản- Bệnh viện Trung Ương Huế trong khoảng thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 06/2020. Tiêu chuẩn chọn bệnh bao gồm: các chu kỳ TTTON bằng trứng tự thân, tuổi trẻ dưới 35 tuổi, có phôi ngày 3 chất lượng tốt có thể trữ đông bằng phương pháp thủy tinh hóa và vẫn ở tình trạng tốt sau khi rã đông. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: chuyển ít hơn 2 phôi và nhiều hơn 3 phôi, không có ít nhất 1 phôi tốt, bệnh lý vòi tử cung hoặc LNMTC nặng. Các bệnh nhân được chia làm 4 nhóm: nhóm 1 gồm các bệnh nhân TPTB do polyp nội mạc tử cung phát hiện trong khi KTBT, nhóm 2 gồm các bệnh nhân TPTB do nguy cơ QKBT, nhóm 3 gồm các bệnh nhân TPTB do tăng Progesterone sớm và nhóm 4 TPTB do các nguyên nhân khác.</span></p> <p><strong>Kết quả:</strong> <span style="font-weight: 400;">trong 379 chu kỳ KTBT bằng trứng tự thân, có 30 trường hợp mới được chẩn đoán polyp NMTC trong khi KTBT, với tỉ lệ 7,9%. 92 chu kỳ chuyển phôi trữ thỏa mãn tiêu chuẩn nhận-loại được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 18 chu kỳ sau phẫu thuật cắt polyp nội mạc tử cung. Tỷ lệ bhCG dương tính, tỉ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ làm tổ của nhóm bệnh nhân chuyển phôi trữ sau khi phẫu thuật cắt polyp NMTC&nbsp; lần lượt là 55,6%; 50% và 26,9%; tương đồng với các nhóm TPTB do các nguyên nhân khác. Không có mối liên quan nào giữa các yếu tố độc lập bao gồm tuổi, BMI, số phôi chuyển, nội mạc tử cung và nguyên nhân đông phôi toàn bộ với tỉ lệ có thai lâm sàng.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận:</strong><span style="font-weight: 400;"> Đông phôi toàn bộ, phẫu thuật nội soi buồng cắt polyp nội mạc tử cung sau đó chuyển phôi trữ ở các chu kỳ tiếp theo là một lựa chọn mang lại tỉ lệ có thai phù hợp. Tuy nhiên cần các nghiên cứu tiến cứu với cỡ mẫu lớn được thực hiện để xác thực các phát hiện trong nghiên cứu này.</span></p> 2021-05-11T03:45:32+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1144 Nghiên cứu đặc điểm u lạc nội mạc tử cung buồng trứng ở các trường hợp vô sinh 2021-05-24T10:08:13+00:00 Nguyễn Đắc Hưng no@email.com Nguyễn Đắc Nguyên ndnguyen@huemed-univ.edu.vn Lê Minh Tâm no@email.com <p><strong>Mục tiêu:</strong><span style="font-weight: 400;"> khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở những bệnh nhân vô sinh có u lạc nội mạc tử cung (LNMTC) buồng trứng. </span><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong><span style="font-weight: 400;"> mô tả cắt ngang bệnh nhân có u LNMTC đang điều trị vô sinh tại Trung tâm nội tiết sinh sản và Vô sinh, bệnh viện trường Đại Học Y Dược Huế trong khoảng thời gian từ 4/2019 đến tháng 6/2020. </span></p> <p><strong>Kết quả:</strong><span style="font-weight: 400;"> Qua nghiên cứu gồm 101 trường hợp lạc nội mạc tử cung, ghi nhận độ tuổi trung bình là 36,53 ± 5,86 tuổi, BMI trung bình là 19,75 ± 1,6 kg/m</span><span style="font-weight: 400;">2</span><span style="font-weight: 400;">. Vô sinh nguyên phát chiếm 76,23%. Thời gian vô sinh trung bình là 4,18 ± 2,69 năm. Đau bụng kinh chiếm 73%. Khám thấy phần phụ có khối u chiếm 75,24%. Prolactin trung bình: 388,26 ± 249,15 μUI/ml, AMH trung bình 4,03 ± 3,73 ng/ml, CA-125 trung bình: 56,78 ± 33,01 UI/ml. Siêu âm buồng trứng: 61,38% có u LNMTC ở buồng trứng (T). 30,69% bệnh nhân có kèm LNMTC trong cơ tử cung. </span></p> <p><strong>Kết luận:</strong> <span style="font-weight: 400;">Bệnh nhân vô sinh có u lạc nội mạc tử cung tại buồng trứng có một số điểm khác biệt so với những bệnh nhân vô sinh khác. Việc nhận diện các yếu tố liên quan giúp góp phần điều chỉnh cách thức can thiệp trong điều trị vô sinh.</span></p> 2021-05-11T03:46:13+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1169 Nhiễm SARS-COV-2 trong thai kỳ: báo cáo trường hợp đầu tiên được mổ lấy thai cấp cứu tại Việt Nam và điểm qua y văn 2021-05-24T10:08:27+00:00 Trần Đình Vinh vinhtd@danang.gov.vn Vũ Văn Long no@email.com Phạm Chí Kông no@email.com <p><span style="font-weight: 400;">Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế thế giới đã chính thức công bố đại dịch COVID-19 trên toàn thế giới. Mặc dù số người nhiễm SARS-CoV-2 ngày càng tăng</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng các dữ liệu về SARS-CoV-2 ở phụ nữ mang thai còn hạn chế. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng tôi báo cáo trường hợp thai phụ nhiễm SARS-CoV-2 đầu tiên được mổ lấy thai cấp cứu tại Việt Nam. Đây là bệnh nhân số 569 nhiễm SARS-CoV-2 tại Việt Nam, là 01 trong 02 thai phụ nhiễm SARS-CoV-2 đầu tiên tại Việt Nam (cùng với bệnh nhân số 495 mang thai 11 tuần).</span> <span style="font-weight: 400;">Bệnh nhân có tiền sử điều trị tại Bệnh viện Đà Nẵng (là ổ dịch tại Thành phố Đà Nẵng) vì nhiễm trùng đường tiểu. Bệnh nhân xuất viện vào ngày 21/7/2020. Do có yếu tố dịch tễ nên được xét nghiệm tầm soát SARS-CoV-2. Ghi nhận lúc vào viện: thai 35 tuần, vết mổ cũ 02 lần, không sốt, ho khan ít, không khó thở. Bệnh nhân vẫn còn tiểu buốt, tiểu rát. Số lượng bạch cầu bình thường. Xét nghiệm SARS-CoV-2 dịch vòm mũi họng bằng kỹ thuật RT-PCR dương tính vào các ngày 5/8, 8/8, 13/8, 15/8 và âm tính vào ngày 17/8. Sau 02 tuần theo dõi, thai phụ có dấu hiệu chuyển dạ và đau vết mổ cũ nên được chỉ định mổ lấy thai, mổ ra bé gái 3000g, IA 8/1</span><span style="font-weight: 400;">’ </span><span style="font-weight: 400;">- 9/5</span><span style="font-weight: 400;">’</span><span style="font-weight: 400;"> vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 15/8/2020. Sau mổ, bé và mẹ nằm cùng phòng và bé được nuôi bằng sữa mẹ. Quá trình hậu sản ổn định. Cả mẹ và bé được xuất viện vào ngày 22/8/2020 sau 03 lần xét nghiệm âm tính.</span></p> 2021-05-11T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1150 Thai ống cổ tử cung: Ca lâm sàng, tổng quan chẩn đoán và điều trị 2021-05-24T10:08:10+00:00 Lê Nam Hùng kimkonhung@gmail.com Lê Hoài Nhân no@email.com Nguyễn Việt Đức no@email.com Trần Trung Hoành no@email.com Trần Đình Lực no@email.com <p><span style="font-weight: 400;">Thai ống cổ tử cung</span><span style="font-weight: 400;"> là một dạng thai ngoài tử cung hiếm gặp, trong đó thai làm tổ trong niêm mạc của ống cổ tử cung</span><span style="font-weight: 400;">. Mặc dù tỷ lệ mắc thấp nhưng nó liên quan đến tỷ lệ tử vong cao, cần can thiệp kịp thời để tránh phải cắt bỏ tử cung và bảo tồn khả năng sinh sản. Chúng tôi báo cáo một trường hợp thai làm tổ ống cổ tử cung được điều trị bảo tồn thành công bằng phương pháp methotrexate tại chỗ và toàn thân, chèn Foley cầm máu và thảo luận tổng quan về phương pháp chẩn đoán và điều trị.</span></p> 2021-05-11T03:47:35+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1148 Hiệu quả kỹ thuật “khâu thắt miệng túi” trong phẫu thuật nội soi thai làm tổ đoạn kẽ 2021-05-24T10:08:07+00:00 Đặng Văn Tân dangtany@gmail.com Lê Sĩ Phúc An no@email.com Nguyễn Tuyết Trinh no@email.com Trần Minh Thắng no@email.com Châu Khắc Tú no@email.com Lê Sĩ Phương no@email.com <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Đánh giá hiệu quả kỹ thuật hỗ trợ “khâu thắt miệng túi”</span> <span style="font-weight: 400;">trong phẫu thuật nội soi điều trị thai làm tổ ở đoạn kẽ.</span></p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">nghiên cứu loạt ca trên các bệnh nhân thai làm tổ đoạn kẽ và được điều trị phẫu thuật nội soi bằng kỹ thuật hỗ trợ “khâu thắt miệng túi” trước khi xẻ hoặc cắt góc tử cung tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 1/2019 đến 8/2020.</span></p> <p><strong>Kết quả:</strong><span style="font-weight: 400;"> tổng cộng có 14 bệnh nhân được thu nhận. Độ tuổi trung bình là 31,1 </span> <span style="font-weight: 400;">4,5&nbsp; tuổi (từ 27 - 43 tuổi). Tuổi thai trung bình theo kinh cuối cùng 7,5</span> <span style="font-weight: 400;">1,8 tuần (từ 5 - 12 tuần), 7 trường hợp (50%) không có triệu chứng lâm sàng, nồng độ βhCG trung bình trước mổ là 39.335,9 mIU/ml. Kích thước khối thai trung bình trong mổ là 36,1 </span><span style="font-weight: 400;"> 9,0 mm (từ 20 - 50mm), 13/14 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi thành công, 1 trường hợp phải chuyển qua mổ hở vì kích thước khối thai tương đối lớn (50mm) và khối thai bị đụng vỡ trong phẫu thuật làm chảy máu khó kiểm soát. Thời gian phẫu thuật trung bình 60,7 </span><span style="font-weight: 400;"> 12,7 phút (từ 50 - 90 phút), lượng máu mất trung bình trong mổ 66,1 </span><span style="font-weight: 400;"> 19,4 ml. Không ghi nhận biến chứng đáng kể nào trong và sau mổ. Thời gian nằm viện trung bình sau mổ là 4,1</span><span style="font-weight: 400;"> ±</span><span style="font-weight: 400;"> 0,9 ngày. Và tất cả các trường hợp đều có nồng độ βhCG giảm tốt sau mổ với nồng độ βhCG trung bình 48 giờ sau mổ là 5.086,4 mIU/ml.</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phẫu thuật nội soi điều trị thai làm tổ ở đoạn kẽ vòi tử cung bằng kỹ thuật “khâu thắt miệng túi” là một can thiệp xâm lấn tối thiểu, an toàn và đặc biệt hiệu quả trong kiểm soát chảy máu trong mổ nếu được thực hiện bởi các bác sĩ phẫu thuật giàu kinh nghiệm.</span></p> 2021-05-11T03:48:20+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản https://vjog.vn/journal/article/view/1097 Viêm vú dạng hạt: Báo cáo loạt ca và điểm qua y văn 2021-05-24T10:08:03+00:00 Mạc Thủy Thảo Phương macthuythaophuong45@gmail.com Dương Minh Thư no@email.com Nguyễn Trần Bảo Chi no@email.com <p><span style="font-weight: 400;">Viêm vú dạng hạt là bệnh lý lành tính tuyến vú. Hướng điều trị và theo dõi bệnh phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh và cần phân biệt viêm vú dạng hạt và viêm vú do lao. Vì vậy nghiên cứu này nhằm mục đích phác thảo bối cảnh, trình bày lâm sàng, đặc điểm hình ảnh và phương thức điều trị được quan sát giữa một loạt bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm vú dạng hạt đã được chứng minh bằng sinh thiết.</span></p> <p><span style="font-weight: 400;">Phương pháp: Hồi cứu những bệnh nhân viêm vú đến khám tại khoa nhũ bệnh viện Hùng Vương có kết quả giải phẫu bệnh viêm vú dạng hạt từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 07 năm 2020</span></p> <p><span style="font-weight: 400;">Kết quả: có tất cả 16 bệnh nhân được xác định. Tuổi trung bình của nhóm là 34,75 tuổi, hầu hết đều trong độ tuổi sinh đẻ. Có khối đau ở vú là triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất. Tất cả bệnh nhân đều được siêu âm. Xác định chẩn đoán bằng giải phẫu bệnh. 6 bệnh nhân được chẩn đoán lao vú và được điều trị theo phác đồ lao. Điều trị viêm vú dạng hạt bao gồm phẫu thuật, dẫn lưu mủ, sử dụng corticosteroid, kháng sinh.</span></p> <p><span style="font-weight: 400;">Kết luận: Viêm vú dạng hạt là dạng viêm vú lành tính, hiếm gặp, trong số đó viêm vú do lao là một trong số những nguyên nhân gây viêm vú dạng hạt. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng bệnh nhân có những khối ở ngực, đau, mức độ tiến triển bệnh nhanh. Chẩn đoán viêm vú dạng hạt dựa vào giải phẫu bệnh. Điều trị tùy thuộc nguyên nhân bệnh. Điều trị viêm vú dạng hạt vẫn còn là thách thức, chưa có phương thức điều trị nào được cho là tối ưu.</span></p> 2021-05-11T03:49:18+00:00 Bản quyền (c) 2020 Tạp chí Phụ sản