Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến tiền sản giật ở thai phụ có nguy cơ cao ở tuổi thai 24-28 tuần tại Khoa Phụ Sản – Bệnh viện Đại học Y Dược tp. HCM
PDF

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Nguyễn, H. T., Nguyễn, D. T., & Võ, M. T. (2014). Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến tiền sản giật ở thai phụ có nguy cơ cao ở tuổi thai 24-28 tuần tại Khoa Phụ Sản – Bệnh viện Đại học Y Dược tp. HCM. Tạp Chí Phụ sản, 12(4), 18-23. https://doi.org/10.46755/vjog.2014.4.997

Tóm tắt

Mở đầu: Tiền sản giật (TSG) là một bệnh lý thường gặp trong thai kỳ, chiếm khoảng 5-8% các thai kỳ. Cho đến ngày nay, TSG vẫn còn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho bà mẹ lẫn trẻ sơ sinh trên toàn thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã triển khai tầm soát và đưa ra tỷ lệ cũng như các yếu tố liên quan đến TSG ở thai phụ. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam nhằm xác định tỷ lệ TSG cũng như các yếu tố liên quan đến hội chứng này cho thai phụ Việt Nam. Đề tài: “Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến TSG ở thai phụ có nguy cơ cao ở tuổi thai 24-28 tuần tại Khoa Phụ Sản – Bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh”. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai phụ xuất hiện hội chứng TSG, và các yếu tố liên quan đến hội chứng TSG ở các thai phụ. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các thai phụ có nguy cơ cao TSG đến khám tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ 9/2012 đến 8/2013. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang. Cỡ mẫu: Các thai phụ được chọn vào khi đang mang thai từ tuần 24-28 của thai kỳ, không bị TSG theo tiêu chuẩn ACOG (không bị vừa cao huyết áp, vừa tiểu đạm xuất hiện sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ), có nguy cơ cao, và đồng ý tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu loại trừ các thai phụ có vấn đề về tâm thần và những thai phụ không hợp tác hoặc tự nguyện bỏ ngang nghiên cứu. Nghiên cứu tuyển chọn được 473 thai phụ đạt tiêu chuẩn. Công cụ nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi, hồ sơ bệnh án, hồ sơ quản lý thai kỳ, kết quả khám và xét nghiệm của thai phụ để khai thác thông tin. Số liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm Stata 12. Kết quả: Khảo sát các triệu chứng có liên quan đếnTSG, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thai phụ có tình trạng suy chức năng gan là cao nhất, (126 thai phụ, tỷ lệ 26,6%), kế đến là triệu chứng giảm chức năng thận (80 trường hợp mắc, tỷ lệ 16,9%), tăng huyết áp (35 trường hợp, tỷ lệ 7,4%), giảm tiểu cầu (4 trường hợp, tỷ lệ 0,9%), và protein niệu (2 trường hợp, tỷ lệ 0,4%). Không có trường hợp nào phù phổi cấp hoặc có các triệu chứng não hoặc thị giác. Tỷ lệ tăng huyết áp mới mắc trong thai kỳ (bao gồm cả TSG và không TSG) là 7,4% (3% tăng huyết áp thai kỳ (không có TSG) và 4,4% TSG). Trong các yếu tố được xem là nguy cơ, nghiên cứu chỉ tìm thấy hai yếu tố thực sự có ý nghĩa thống kê làm tăng nguy cơ TSG ở các đối tượng này, đó là yếu tố béo phì (BMI ≥ 30 kg/m2) (p=0,011) và yếu tố tiền sử gia đình có hội chứng TSG (p=0,013). Kết luận: Qua nghiên cứu này, tuy tỷ lệ TSG cũng như tăng huyết áp thai kỳ vẫn nằm trong tầm kiểm soát, chưa thực sự cao so với tình hình các nước trên thế giới, nhưng chúng tôi nhấn mạnh vai trò của việc tầm soát TSG đối với các thai phụ có yếu tố tiền sử gia đình mắc hội chứng TSG, và những thai phụ có chỉ số BMI cao, đặc biệt là thai phụ béo phì có chỉ số BMI ≥ 30 kg/m2.

Từ khóa

tiền sản giật
PDF

Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền

Download

Dữ liệu downlad không hiện hữu.