Tóm tắt
Đặt vấn đề: Song thai cổ tử cung (CTC) ngắn có nguy cơ sinh non cao. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả của vòng nâng CTC và progesterone đặt âm đạo trong phòng ngừa sinh non ở thai phụ song thai có CTC ngắn.
Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, tại bệnh viện Mỹ Đức, từ 03/2016 đến 06/2017, trên 300 thai phụ song thai có chiều dài CTC<38 mm. Đối tượng được phân ngẫu nhiên vào nhóm đặt vòng nâng(Arabin®, n=150) hoặc progesterone âm đạo (400 mg/ngày, n=150) thời điểm 16-22 tuần.
Kết quả: Tỉ lệ sinh non <34 tuần ở nhóm đặt vòng và nhóm progesterone lần lượt là 16,2%và 22,1% (RR 0,73, 95%CI 0,46 – 1,18). Vòng nâng CTC làm giảm biến chứng sơ sinh(26,5% so với 18,6%, RR 0,70, 95%CI 0,43 – 0,93). Ở phân nhóm có CTC < 28 mm, vòng nâng CTC giảm tỉ lệ sinh non <34 tuần từ 54,5% (12/22) xuống còn 24,2% (8/33) và biến chứng sơ sinh từ 59,1% xuống còn 19,7% (p < 0,05).
Kết luận: Ở thai phụ song thai có CTC <38 mm, vòng nâng CTC làm giảm biến chứng sơ sinh. Trong phân nhóm có CTC < 28 mm, vòng nâng CTC giảm tỉ lệ sinh non <34 tuần và biến chứng sơ sinh.
Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền
Download
Cùng tác giả
- Hê Thanh Nhã Yến, Bùi Thị Phương Loan, Hồ Ngọc Anh Vũ, Đặng Quang Vinh, Tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng và các yếu tố liên quan ở phụ nữ có thai sau hỗ trợ sinh sản , Tạp chí Phụ sản: Tập 13 Số 4 (2016)
- Võ Hữu Bình, Hồ Ngọc Anh Vũ, Phan Thị Ngọc Minh, Lê Tiểu My, Phạm Thị Phương Anh, Vương Thị Ngọc Lan, Giá trị của siêu âm bơm nước buồng tử cung trong chẩn đoán khối choán chỗ buồng tử cung ở bệnh nhân hiếm muộn , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 1 (2017)
- Lê Long Hồ, Phạm Dương Toàn, Vương Thị Ngọc Lan, Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 4 (2018)
- Hà Thị Diễm Uyên, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Phạm Dương Toàn, Huỳnh Gia Bảo, Hồ Mạnh Tường, So sánh thai diễn tiến cộng dồn giữa chuyển phôi ngày 3 so với chuyển phôi ngày 5 ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 1 (2017)
- Lê Long Hồ, Phạm Dương Toàn, Vương Thị Ngọc Lan, Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON , Tạp chí Phụ sản: Tập 17 Số 1 (2019)
- Lê Hoàng Anh, Phạm Dương Toàn, Vương Thị Ngọc Lan, Đặng Quang Vinh, Hiệu quả của kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IMV) trên bệnh nhân có hoặc không có hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 1 (2017)
- Đặng Quang Vinh, Cập nhật các biện pháp dự phòng sinh non , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 1 (2017)
- Lê Đăng Khoa, Trần Nhật Quang, Đặng Quang Vinh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Hồ Mạnh Tường, Kirsty Foster, Tỉ lệ hiện mắc stress trên nhân viên y tế đang công tác tại các trung tâm IVF , Tạp chí Phụ sản: Tập 16 Số 1 (2018)
- Lê Quang Thanh, Tỉ lệ tân sinh nguyên bào nuôi sau thai trứng điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 2 (2016)
- Lê Quang Thanh, Yếu tố liên quan diễn tiến thành tân sinh nguyên bào nuôi sau thai trứng tại Bệnh viện Từ Dũ , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 2 (2016)
