Tóm tắt
Đặt vấn đề: Kiểm tra sức sống tinh trùng (sperm survival test – SST) được phát triển như là một xét nghiệm nâng cao để đánh giá khả năng sống của tinh trùng trong điều kiện in vitro. Chúng tôi tiến hành đánh giá sức sống của tinh trùng sau lọc rửa với các mốc thời gian 0 giờ, 24 giờ và 48 giờ từ đó nghiên cứu ảnh hưởng của sức sống tinh trùng đến kết quả ICSI.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 100 cặp vợ chồng vô sinh điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh – Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017. Mẫu tinh trùng được lọc rửa vả nuôi cấy. Độ di động, sức sống được đánh giá sau khi nuôi cấy cùng với kết quả ICSI.
Kết quả: Nhóm có sức sống tinh trùng bình thường (tỷ lệ tinh trùng sống ≥58% sau 24 giờ và ≥20% sau 48 giờ nuôi cấy) – nhóm 1 cho MSI (motility survival index) và VSI (vitality survival index) cao hơn nhóm 2 – nhóm có sức sống tinh trùng bất thường, lần lượt là 55,7% so với 26,72% và 77,83% so với 41,47% (p<0,05). Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ tạo phôi tốt của nhóm 1 (85,29% và 71,38%) cao hơn nhóm 2 (81,74% và 50,15%). Nhóm 1 có tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ thai diễn tiến (lần lượt là 38,18% và 29,1%) khác biệt so với nhóm 2 (lần lượt là 24,44% và 28,89%).
Kết luận: Tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới và sức sống tinh trùng giảm dần theo thời gian nuôi cấy. Sức sống tinh trùng có mối tương quan đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm: kết quả thụ tinh trong ống nghiệm tốt hơn khi sử dụng tinh trùng có sức sống bình thường, nhóm sử dụng tinh trùng có sức sống bình thường có tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ thai diễn tiến cao (lần lượt là 85,29%, 71,38%, 38,18% và 29,1%).
Từ khóa
Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền
Download
Cùng tác giả
- Nguyễn Viết Nhân, Cao Ngọc Thành, Hà Thị Minh Thi, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Võ Văn Đức, Trương Quang Vinh, Trần Mạnh Linh, Vai trò của tỷ số sFLT-1/ PLGF trong dự báo và chẩn đoán tiền sản giật , Tạp chí Phụ sản: Tập 13 Số 4 (2016)
- Trương Quang Vinh, Cao Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Võ Văn Đức, Nguyễn Viết Nhân, Trần Mạnh Linh, Huyết áp động mạch tại thời điểm 11 – 13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển tiền sản giật và giá trị dự báo , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 2 (2016)
- Hồ Thị Thanh Tâm, Lê Minh Tâm, Cao Ngọc Thành, Kích thích buồng trứng kép trong thụ tinh ống nghiệm: liệu có thể là một chiến lược mới cho bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém? , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Lê Thị Ly Ly, Lê Minh Tâm, Nghiên cứu tình trạng viêm nhiễm sinh dục thấp ở thai phụ trên 35 tuần tuổi thai , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Nguyễn Đình Phương Thảo, Cao Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Đánh giá hiệu quả của estradiol trong điều trị rối loạn vận mạch và rối loạn tâm lý ở phụ nữ mãn kinh , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Lê Viết Thắng, Lê Minh Tâm, Nghiên cứu nồng độ AMH ở các trường hợp vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Lê Minh Tâm, Trần Thị Như Quỳnh, Nguyễn Thị Hiệp Tuyết, Có mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và sức bền tinh trùng? , Tạp chí Phụ sản: Tập 18 Số 1 (2020): Tập 18, Số 1, 2020
- Đinh Khánh Dung, Lê Minh Tâm, Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán và tiên lượng các trường hợp dọa sẩy thai ở quý I thai kỳ , Tạp chí Phụ sản: Tập 12 Số 1 (2014)
- Lê Minh Tâm, Trần Minh Thắng, Nguyễn Minh Chánh, Nghiên cứu tình trạng nhiễm trùng sinh dục thấp trong dọa sinh non , Tạp chí Phụ sản: Tập 12 Số 1 (2014)
- Cao Ngọc Thành, Võ Văn Đức, Nguyễn Vu Quốc Huy, Trương Quang Vinh, Nguyễn Viết Nhân, Hà Thị Minh Thi, Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Trần Mạnh Linh, Mô hình sàng lọc bệnh lý tiền sản giật tại thời điểm 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày thai kỳ dựa vào các yếu tố nguy cơ mẹ, huyết áp động mạch trung bình, PAPP-A và siêu âm Doppler động mạch tử cung , Tạp chí Phụ sản: Tập 13 Số 3 (2015)
