Rối loạn nội tiết sinh sản ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang
PDF

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Lê, M. T., Lê, V. H., Nguyễn, T. P. L., Lê, Đình D., Lê, V. N. S., Trần, T. Y. T., Phạm, C. K., Nguyễn, T. N., Nguyễn, Đăng T. N. A., & Cao, N. T. (2017). Rối loạn nội tiết sinh sản ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang . Tạp Chí Phụ sản, 15(3), 119 -. https://doi.org/10.46755/vjog.2017.3.425

Tóm tắt

Giới thiệu: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là bệnh lý nội tiết phụ khoa thường gặp nhất, ước tính gặp trong khoảng 5-7% phụ nữ ở độ tuổi sinh sản. Các phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang sẽ gia tăng nguy cơ gặp các vấn đề về sinh sản bao gồm vô sinh, ung thư nội mạc tử cung, mãn kinh muộn cũng như các rối loạn chuyển hóa, bao gồm đề kháng Insuline, rối loạn mỡ máu và các bệnh lý tim mạch. Hội chứng buồng trứng đa nang được báo cáo từ nhiều vùng khác nhau trên thế giới, nhận thấy kiểu hình biểu hiện của buồng trứng đa nang thay đổi theo chủng tộc. Tại Việt Nam còn rất ít nghiên cứu và dữ liệu liên quan đến lâm sàng và nội tiết của HCBTĐN. Mục đích nghiên cứu này nhằm xác định các đặc điểm lâm sàng và nội tiết của bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN tại miền Trung Việt Nam.

Đối tượng phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang 759 trường hợp phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đến khám vô sinh và được chẩn đoán có HCBTĐN theo Rotterdam (391) và không có HCBTĐN (368) tại 3 Trung tâm hỗ trợ sinh sản chính ở khu vực miền Trung Việt Nam gồm Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng, trong thời gian từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017. Tiêu chuẩn nhận vào nhóm chứng gồm những phụ nữ đến khám vô sinh, không có HCBTĐN, chu kỳ kinh nguyệt đều, không có bệnh lý tại buồng trứng (khối u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung), tiền sử phẫu thuật buồng trứng hay suy buồng trứng đã xác định. Các biến số lâm sàng và nội tiết cơ bản, AMH được thực hiện để đánh giá các rối loạn nội tiết. Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0

Kết quả: Độ tuổi trung bình nhóm vô sinh có HCBTĐN là 29,21±4,20. Tỷ lệ HCBTĐN ở bệnh nhân trên 35 tuổi là 26,4% so với 58,2% ở bệnh nhân dưới 35 tuổi (RR=0,45 với KTC là 0,35-0,59). Nhóm HCBTĐN có tỷ lệ BMI quá cân cao hơn so với nhóm chứng gấp 1,20 lần (RR=1,20 với KTC 95%: 1,02-1,42). Nhóm HCBTĐN có nồng độ AMH , chỉ số LH/FSH và Testosterone cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng, với giá trị lần lượt là 8,94±5,68ng/ml vs 3,49±2,12ng/ml; 2,08± 1,49 vs 0,81±0,39 và 0,36±0,27 ng/ ml vs 0,18±0,14 ng/ml. Tại điểm cut-off AMH bằng 4,42 ng/ml, độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán HCBTĐN lần lượt là 79,03% và 74, 08%, diện tích dưới đường cong là 0,85 95%CI 0,82 ; 0,87).

Kết luận: Rối loạn nội tiết thường gặp ở hội chứng buồng trứng đa nang, với sự gia tăng AMH, LH/ FSH và Testosterone. AMH có thể là một dấu hiệu chẩn đoán HCBTĐN.

PDF

Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền

Download

Dữ liệu downlad không hiện hữu.

Cùng tác giả

1 2 > >>