Tóm tắt
Tổng quan: Sinh non là nguyên nhân chính gây tử vong sơ sinh và thương tật ở trẻ đẻ non còn sống. Chiều dài cổ tử cung ngắn liên quan chặt chẽ với tỉ lệ sinh non và sinh cực non. Các can thiệp là cần thiết để dự phòng đẻ non ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao. Dụng cụ tử cung được nhiều nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng chứng minh là có hiệu quả. Mục tiêu của nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của dụng cụ nâng cổ tử cung trong việc dự phòng sinh non ở các thai phụ có cổ tử cung ngắn.
Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu mô tả. Các sản phụ song thai hoặc đơn thai có tiền sử đẻ non/ sẩy thai muộn được siêu âm đo độ dài cổ tử cung ở tuổi thai 18-22 tuần. Nếu cổ tử cung ngắn dưới 25 mm được tư vấn đặt dụng cụ nâng cổ tử cung. Theo dõi thai kỳ cho đến khi em bé sinh ra đời. Kết cục chính gồm tỉ lệ đẻ non dưới 34 tuần. Kết cục phụ gồm tỉ lệ trẻ đẻ non dưới 28 tuần, dưới 37 tuần, tỉ lệ tử vong sơ sinh, tỉ lệ trẻ nhẹ cân dưới 2500 gr. So sánh kết cục thai kỳ giữa nhóm thai kỳ đơn thai và đa thai.
Kết quả: Có 26 phụ nữ , trong đó có 13 thai kỳ đơn thai và 13 thai kỳ song thai được đưa vào nghiên cứu. Tỉ lệ đẻ non dưới 34 tuần là 4%, tỉ lệ tử vong sơ sinh là 5,3%, tỉ lệ trẻ rất nhẹ cân (<1500 gr) là 5,3%. Tuổi thai lúc sinh của nhóm song thai là 36,6 ± 2,7 tuần, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm đơn thai có tiền sử đẻ non với tuổi thai trung bình là 38,8 ± 0,9, với p <0,05. Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra là 2715,79 ± 500,01 gr, ở nhóm song thai là 2526,92 ± 474,60 gr, thấp hơn rất nhiều so với nhóm đơn thai là 3125,00 ± 249,09 gr. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Kết luận: Dụng cụ nâng vòng tử cung là một biện pháp an toàn, đáng tin cậy, giá cả phải chăng và có thể thay thế các thủ thuật khác trong việc dự phòng đẻ non ở nhóm đối tượng lựa chọn kỹ.
Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền
Download
Cùng tác giả
- Đinh Thị Phương Minh, Nguyễn Văn Tuấn, Hồ Thị Phương Thảo, Hoàng Trọng Phước, Trần Minh Thắng, Vai trò của phẫu thuật nội soi trong điều trị lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng tại Bệnh viện Trung ương Huế , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Phan Cảnh Quang Thông, Lê Việt Hùng, Nguyễn Phạm Quỳnh Phương, Nguyễn Thị Thu Thúy, Nguyễn Phước Bảo Minh, Kết quả tỷ lệ mang thai cộng dồn bằng khỏi động trưởng thành noãn bằng GnRH agonist kết hợp pregnyl liều thấp trong phác đồ GnRH antagonist tại Khoa Vô sinh, Bệnh viện Trung ương Huế , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Bạch Cẩm An, Lê Sỹ Phương, Phan Viết Tâm, Châu Khắc Tú, Đinh Thị Phương Minh, Hoàng Bảo Nhân, Lê Thị Ý Nhân, Nghiên cứu hiệu quả của hóa chất tiền phẫu ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn muộn , Tạp chí Phụ sản: Tập 12 Số 3 (2014)
- Hoàng Thị Liên Châu, Bạch Cẩm An, Châu Khắc Tú, Lê Sỹ Phương, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Thị Hoàn, Đinh Thị Phương Minh, Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Mỹ Hương, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u lạc nội mạc tử cung tái phát , Tạp chí Phụ sản: Tập 12 Số 3 (2014)
- Nguyễn Phúc Nhơn, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Diễm Thư, Nguyễn Thị Ngọc Tỷ, Trương Thị Thanh Thủy, Đinh Thị Phương Minh, Giá trị của bề dày nội mạc trong tiên đoán ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ ra máu bất thường quanh và sau mãn kinh , Tạp chí Phụ sản: Tập 19 Số 3 (2021): Số đặc biệt chào mừng Hội nghị Phụ Sản Miền Trung - Tây Nguyên mở rộng lần IX, năm 2021
