Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn của chuyển 2 phôi ngày 3 so với chuyển 2 phôi ngày 5 nhằm xác định chiến lược chuyển phôi tốt nhất cho các bệnh nhân đến thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện tại IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức trong thời gian từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015. Tiêu chuẩn nhận bệnh: tuổi từ 18 - 42 tuổi, kích thích buồng trứng bằng GnRH antagonist, số chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm ≤ 2, số phôi hữu dụng ngày 3 (loại I và II) ≥ 8, chuyển 2 phôi ngày 3 hoặc ngày 5. Tiêu chuẩn loại: Các chu kỳ trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM), chu kỳ xin-cho trứng, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH agonist.
Yếu tố đánh giá kết quả chính: tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn và yếu tố phụ: tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ đa thai, tỷ lệ sảy thai, tỷ lệ thai ngoài tử cung. Kết quả: 210 bệnh nhân thỏa điều kiện được chọn vào nghiên cứu được chia làm 2 nhóm với 78 bệnh nhân thực hiện chuyển phôi vào ngày 3 và 132 bệnh nhân chuyển phôi ngày 5. Không có sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm bệnh nhân về các thông số độ tuổi, BMI, thời gian vô sinh, độ dày nội mạc tử cung (32,2 so với 31,9; 21,3 so với 21,2; 4,3 so với 4,3; 11,8 so với 11,9; tương ứng với mỗi nhóm). Tỷ lệ thai diễn tiến ở các trường hợp chuyển phôi ngày 5 cao hơn đáng kể có ý nghĩa thống kê so với chuyển phôi ngày 3 (29,5% so với 46,2%; P=0,02). Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn không có sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm chuyển phôi ngày 3 và ngày 5 (60,3 so với 71,2; P>0,05).
Kết luận: Mặc dù tỷ lệ thai diễn tiến ở trường hợp chuyển phôi ngày 5 là cao hơn đáng kể so với chuyển phôi ngày 3, nhưng tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn là tương đương ở cả 2 nhóm.
Tạp chí sẽ lưu giữ bản quyền phân phối, giao dịch đối với tất cả các bản thảo, bản toàn văn của bài báo đăng trên hệ thống. Mọi hình thức chia sẽ, trao đổi, giao dịch các sản phẩm thuộc hệ thống xuất bản vjog.vn mà không được sự đồng ý của chúng tôi sẽ là vi phạm bản quyền
Download
Cùng tác giả
- Lưu Thị Minh Tâm, Phạm Thiếu Quân, Huỳnh Gia Bảo, Ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ trong thụ tinh ống nghiệm: hiện trạng và xu hướng , Tạp chí Phụ sản: Tập 16 Số 2 (2018)
- Lê Long Hồ, Phạm Dương Toàn, Vương Thị Ngọc Lan, Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 4 (2018)
- Lê Long Hồ, Phạm Dương Toàn, Vương Thị Ngọc Lan, Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON , Tạp chí Phụ sản: Tập 17 Số 1 (2019)
- Lê Hoàng Anh, Phạm Dương Toàn, Vương Thị Ngọc Lan, Đặng Quang Vinh, Hiệu quả của kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IMV) trên bệnh nhân có hoặc không có hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 1 (2017)
- Trần Tú Cầm, Lưu Thị Minh Tâm, Huỳnh Gia Bảo, Tổng quan đông lạnh noãn từ lâm sàng đến labo phôi học , Tạp chí Phụ sản: Tập 15 Số 4 (2018)
- Nguyễn Thị Liên Thi, Lê Hoàng Anh, Phạm Dương Toàn, Huỳnh Gia Bảo, Hồ Mạnh Tường, Kết quả ICSI của trứng có khoang quanh noãn hẹp và màng trong suốt không đồng nhất , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 4 (2017)
- Nguyễn Khánh Linh, Đặng Quang Vinh, Phạm Dương Toàn, Hê Thanh Nhã Yến, Vũ Nhật Khang, Phan Thị Ngọc Minh, Lê Quang Thanh, Lê Hồng Cẩm, Vương Thị Ngọc Lan, Ben W Mol, Vòng nâng cổ tử cung so với progesterone đặt âm đạo trong phòng ngừa sinh non ở thai phụ mang song thai có chiều dài cổ tử cung < 38 mm: một thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng , Tạp chí Phụ sản: Tập 16 Số 1 (2018)
- Hồ Ngọc Anh Vũ, Vương Thị Ngọc Lan, Phạm Dương Toàn, Hồ Mạnh Tường, Rút lại theo yêu cầu nhóm tác giả: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng so sánh hiệu quả phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng corifollitropin α và menotropin với phác đồ follitropin β đơn thuần ở bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém , Tạp chí Phụ sản: Tập 14 Số 3 (2016)
- Trần Phương Linh, Hồ Mạnh Tường, Điều trị kết hợp androgen cho các trường hợp đáp ứng kém với kích thích buồng trứng , Tạp chí Phụ sản: Tập 13 Số 1 (2015)
