Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết cục thai kỳ ở những thai phụ thừa cân béo phì tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2023-2024.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 66 thai phụ thừa cân béo phì được nhập viện tại Khoa Sinh trong thời gian từ tháng 11/2023 đến hết tháng 02/2024. Nghiên cứu được tiến hành thông qua phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu theo phiếu điều tra, thăm khám ghi nhận triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và theo dõi đánh giá kết cục thai kỳ nhằm mô tả đặc điểm đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết cục thai kỳ ở những thai phụ thừa cân béo phì.
Kết quả: Tỷ lệ thai phụ béo phì là 53,0%, thừa cân 47,0%, có tầm soát đái tháo đường thai kỳ trong ba tháng đầu 45,5%, tăng cân trong thai kỳ trên mức khuyến cáo 59,1%, tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ 10,6%, tiền sản giật – sản giật 9,1%, tăng huyết áp thai kỳ 4,5%. CTG nhóm I chiếm tỷ lệ 95,3%, CTG nhóm II chiếm 4,7%. Có 75,7% trường hợp mổ lấy thai và 24,3% sinh ngã âm đạo, 13,7% sinh non, 1,5% thai chết trong buồng tử cung, 1,5% băng huyết sau sinh. Tỷ lệ trẻ sinh ra đủ cân 84,9% và 4,5% trẻ có trọng lượng ≥ 4000g, Apgar 1 phút < 7 điểm chiếm 3,0%, Apgar 5 phút < 7 điểm chiếm 1,5%, có 4,6% trẻ cần được chăm sóc tại Nhi sơ sinh, 1,5% trường hợp dị tật bẩm sinh.
Kết luận: Tỷ lệ thai phụ thừa cân, béo phì chiếm tỷ lệ cao và ảnh hưởng lớn đến kết cục thai kỳ.
Tài liệu tham khảo
[2]. Aune D, Saugstad OD, Henriksen T, et al. (2014), "Maternal body mass index and the risk of fetal death, stillbirth, and infant death: a systematic review and meta-analysis", Jama, 311(15), pp.1536-46
[3]. D'Souza R, Horyn I, Pavalagantharajah S, et al. (2019), "Maternal body mass index and pregnancy outcomes: a systematic review and metaanalysis", American journal of obstetrics & gynecology MFM, 1(4), pp.100041.
[4]. Sahoo K, Sahoo B, Choudhury AK, et al. (2015), "Childhood obesity: causes and consequences", Journal of family medicine and primary care, 4(2), pp.187-92.
[5]. Hian TK (2019), "Maternal weight, weight gain during pregnancy and body weight at birth: insights from research save the cohort", Hội nghị sản phụ khoa Việt-Pháp-Châu Á Thái Bình Dướng lần thứ 19.
[6]. Nguyễn Thị Màu, Nguyễn Quốc Tuấn (2018), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ thừa cân béo phì tại bệnh viện phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2017-2018," Tạp chí Y dược học Cần Thơ, tr.102-6.
[7]. Nguyễn Xuân Mỹ, Nguyễn Hữu Dự, Ngũ Quốc Vĩ (2022), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ của các thai phụ thừa cân, béo phì tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2020-2022", Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (51), tr.177-83.
[8]. Nguyễn Mạnh Thắng (2021), "Lâm sàng và cận lâm sàng của thai phụ đái tháo đường thai kỳ đẻ đủ tháng tai Bệnh viện Phụ sản Trung ương", Tạp chí Y học Việt Nam, tr.502.
[9]. Cheng HR WL, Brown A, Lee JY (2015), "Gestational weight gain and perinatal outcomes of subgroups of Asian-American women", Womens Health Issues, 25 (3), pp.303-11.
[10]. Donath SM, Amir LH (2008), "Maternal obesity and initiation and duration of breastfeeding: data from the longitudinal study of Australian children", Maternal & child nutrition, 4(3), pp.163-70.
[11]. Stubert J, Reister F, Hartmann S, et al. (2018), "The Risks Associated With Obesity in Pregnancy", Deutsches Arzteblatt international, 115(16), pp.276-83.
Công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDerivatives 4.0 International License. . p>
